Top 6 Bài soạn “Chiếu dời đô” của Lý Công Uẩn lớp 8 hay nhất

Top 6 Bài soạn “Chiếu dời đô” của Lý Công Uẩn lớp 8 hay nhất

Năm 1010, Lý Công Uẩn quyết định dời đô từ Hoa Lư ra Đại La, đổi tên Đại Việt thành Đại Cồ Việt. Nhân dịp này, ông đã viết bài chiếu để thông báo rộng rãi quyết định cho nhân dân được biết. Bài chiếu phản ánh khát vọng của nhân dân về một dân tộc độc lập thống nhất, đồng thời phản ánh ý chí tự cường của dân tộc Đại Việt trên đà lớn mạnh. Mời các bạn tham khảo một số bài soạn “Chiếu dời đô” của Lý Công Uẩn hay nhất mà Topz tổng hợp trong bài viết sau để hiểu tác phẩm và chuẩn bị tốt nhất nội dung lên lớp.

1

Bài soạn “Chiếu dời đô” số 1

* Bố cục

– Phần 1. “Xưa nhà Thương… không dời đổi”: Cơ sở lịch sử và thực tiễn của việc dời đô.

– Phần 2. “Huống gì thành Đại La…. đế vương muôn đời”: Lí do chọn thành Đại La làm kinh đô

– Phần 3. Đoạn còn lại: Quyết định dời đổi.

Câu 1 ( trang 51 sgk Ngữ văn 8 tập 2):

Chiếc dời đô, Lí Công Uẩn viện dẫn sử sách Trung Quốc nói về việc các vua đời xưa bên Trung Quốc:

+ Nhà Thương đến vua Bàn Canh năm lần dời đô.

+ Nhà Chu ba lần dời đô.

→ Các triều đại lớn trước đó dời đô nhằm mục tích mưu toan nghiệp lớn, xây dựng vương triều thịnh vượng, mở tương lai lâu bền cho thế hệ sau.

– Kết quả các cuộc dời đô mang lại sự bền vững, hưng thịnh cho quốc gia.

→ Lý Thái Tổ dẫn ra dẫn chứng cụ thể về triều đại Thương Chu để làm cứ liệu khẳng định việc ông dời đô là điều tất yếu hợp đạo lý.


Câu 2 (trang 51 sgk Ngữ Văn 8 tập 2):

Theo Lý Công Uẩn, kinh đô cũ ở vùng Hoa Lư (Ninh Bình) của hai triều Đinh, Lê không còn phù hợp với:

+ Hai nhà Đinh, Lê tự làm theo ý mình, khinh thường mệnh trời, không theo dấu cũ nhà Thương Chu.

+ Triều đại không hưng thịnh, vận nước ngắn ngủi, nhân dân khổ cực, vạn vật không thích nghi.

+ Việc đóng đô của hai triều Đinh, Lê vẫn cứ đóng đô ở Hoa Lư chứng tỏ thế và lực của cả hai triều chưa đủ mạnh (vẫn còn dựa vào thế núi sông).

→ Thể hiện tầm nhìn sâu rộng của vua Lý Thái Tổ.

Câu 3 (trang 51 sgk Ngữ Văn 8 tập 2):

Theo vua Lý Công Uẩn, địa thế của thành Đại La có những ưu thế để đóng đô:

+ Từng là kinh đô cũ của Cao Vương.

+ Thuận lợi địa hình: rộng rãi, bằng phẳng, cao ráo, thoáng đãng, không bị lụt, muôn vật phong phú.

+ Thuận lợi chính trị, văn hóa: chốn hội tụ bốn phương trời, mảnh đất muôn vật tốt tươi.

+ Thuận lợi phong thủy: trung tâm trời đất, thế rồng cuộn hổ ngồi.

→ Thành Đại La hội tụ đủ những ưu thế vượt trội của vùng đất xứng đáng kinh đô của đất nước.


Câu 4 (trang 51 sgk Ngữ văn 8 tập 2):

Chiếc dời đô là một bài văn nghị luận giàu sức thuyết phục bởi nó có sự kết hợp giữa lý và tình.

– Thứ tự trình bày lập luận:

+ Dẫn sử các triều đại lớn từng dời đô trở nên hưng thịnh, bền vững.

+ Đối chiếu với thực trạng hai nhà Đinh, Lê khi đóng đô ở Hoa Lư.

+ Đưa ra những ưu điểm về mặt địa hình và điều kiện tự nhiên của thành Đại La.

→ Tất cả những lý lẽ trên để đi tới kết luận việc dời đô là cần thiết, hợp đạo lý.

– Yếu tố về tình cảm:

+ Dời đô nghĩa là thuận theo ý trời, noi gương lịch sử.

+ Mục đích triều đại được trường tồn, trăm họ không hao tổn.

+ Tác giả bộc lộ sự thương xót cho trăm họ dưới triều Đinh, Lê.

+ Tôn trọng ý kiến của bề tôi – “Các khanh nghĩ thế nào?”.

→ Ý vua sáng suốt hợp lòng dân,thuận ý triều thần, vì thế được mọi người ủng hộ, hưởng ứng.

Câu 5 (trang 51 sgk Ngữ văn 8 tập 2):

Việc dời đô phản ánh ý chí độc lập, tự cường và sự phát triển lớn mạnh của dân tộc Đại Việt vì:

+ Khi từ bỏ vùng núi hiểm trở Ninh Bình ra thành Đại La, nơi giao lưu trọng yếu có nghĩa là nhà Lý đủ sức mạnh phòng thủ đất nước, chống lại sự xâm lược phương Bắc.

+ Đại La là nơi trung tâm, có địa thế thuận lợi, để đất nước phát triển về kinh tế, dân có cơ hội phát triển.

+ Dời đô là dám đưa kinh đô ra đồng bằng chính là phản ánh sự lớn mạnh về thế lực, sự bản lĩnh khi dám đương đầu với thách thức.

+ Dời đô còn thể hiện tầm nhìn chiến lược, sự hiểu biết sâu rộng của người đứng đầu đất nước.

→ Việc dời đô khẳng định ý chí độc lập, tự cường, sự phát triển lớn mạnh của dân tộc Đại Việt có thể tự dựa vào sức mạnh của mình để đương đầu với thách thức mới.

Luyện tập

Chiếu dời đô có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý giữa lý và tình theo mạch lập luận:

+ Đầu tiên, dẫn chứng lịch sử về các triều đại dời đô và trở nên hưng thịnh – do phù hợp với mệnh trời và lòng dân.

+ Dẫn ra nhà Đinh, Lê tiền triều tự làm theo ý mình vẫn đóng đô ở Hoa Lư khiến có cho vận mệnh suy, dân không phát triển.

+ Khẳng định và ngợi ca vị thế của thành Đại La: vị trí địa lý, thế đất, thuận lợi giao thương phát triển kinh tế.

+ Vua Lý đánh giá Đại La là chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương trời, là kinh đô bậc nhất của đế vương muôn .

→ Chiếu dời đô có sức thuyết phục do nhà vua có tầm nhìn đúng đắn, sâu sắc về thành Đại La- Thăng Long. Lời dụ chiếu được trình bày qua lối văn biền ngẫu, đối thoại mở với bề tôi → hợp lý hợp tình.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)


2

Bài soạn “Chiếu dời đô” số 2

Trả lời câu 1 (trang 51 SGK Ngữ văn 8, tập 2)

– Các triều đại lớn trước đó dời đô nhằm mục tích mưu toan nghiệp lớn, xây dựng vương triều thịnh vượng, mở tương lai lâu bền cho thế hệ sau. Kết quả các cuộc dời đô mang lại sự bền vững, hưng thịnh cho quốc gia.

=> Lý Thái Tổ dẫn ra dẫn chứng cụ thể về triều đại Thương Chu để làm cứ liệu khẳng định việc ông dời đô là điều tất yếu hợp đạo lý, làm cơ sở để đưa ra ý kiến dời đô của mình.

Trả lời câu 2 (trang 51 SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Nhìn nhận hai triều Đinh, Lê trước đó với một tinh thần phê phán tích cực, tác giả nhận định rằng việc đóng đô ở vùng Hoa Lư đã không còn phù hợp nữa: “Cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số phận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tổn, muôn vật không được thích nghi”.


Trả lời câu 3 (trang 51 SGK Ngữ văn 8, tập 2)

– Thành Đại La có vị thế thuận lợi về nhiều mặt. Về mặt địa lí.

– Thuận lợi về mặt địa lí như vậy sẽ kéo theo những thuận lợi về thông thương, giao lưu.Nơi định đô mới này sẽ đáp ứng được vai trò là đầu mối trung tâm của kinh tế, chính trị, văn hoá của đất nước.


Trả lời câu 4 (trang 51 SGK Ngữ văn 8, tập 2)

– “Chiếu dời đô” là một bài văn nghị luận giàu sức thuyết phục bởi có sự kết hợp giữa lý và tình.Kết cấu 3 đoạn nói trên là rất tiêu biểu cho kết cấu của văn nghị luận, trình tự lập luận nói trên là rất chặt chẽ.

– Đây là lời ban bố mệnh lệnh nhưng lại có những đoạn bày tỏ nỗi lòng, có những lời như đối thoại, trao đổi.Đặc biệt là hai câu cuối bài chiếu tại tính chất đối thoại và trao đổi chứ không phải là tính chất đơn thoại, một chiều của người trên ban bố cho kẻ dưới. Và vì thế, lời văn tạo nên sự đồng cảm sâu sắc giữa mệnh lệnh của vua với thần dân, ai ai cũng xúc động.


Trả lời câu 5 (trang 51 SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Dời đô từ vùng núi Hoa Lư ra vùng đồng bằng đất rộng chứng tỏ triều đình nhà Lý đủ sức chấm dứt nạn phong kiến cát cứ, thế và lực của dân tộc Đại Việt đủ sức sánh ngang hàng phương Bắc.

Luyện tập

Chứng minh Chiếu dời đô có kết cấu chặt chẽ, lập luận giàu sức thuyết phục.

Trả lời:

… “Chiếu dời đô được chia thành hai phần lớn với hệ thống lí lẽ được triển khai sắc sảo mà đầy thuyết phục. Ngôn từ của văn bản tuy rất kiệm lời mà ý tứ thì thấm đượm sâu xa.

Thiên đô chiếu mở đầu bằng việc nêu ra mục đích quan trọng của việc dời đô. Dời đô là để “ở nơi trung tâm” tiện “mưu toan việc lớn” và cũng là để “tính kế muôn đời cho con cháu về sau”. Dời đô cũng có nghĩa là để trên thì hợp mệnh trời, dưới thì thấu đạt ý dân. Như vậy dời đô thực là để xây dựng đất nước mạnh giàu, đem lại hạnh phúc và nền thái bình thịnh trị đời đời. Xét về lí, việc dời đô, đến đây, quả thực vô cùng quan trọng. Nhưng để cho chân lí được vững chãi hơn, nhà vua đã dẫn ra những chứng nhân của lịch sử để dễ dàng thu phục nhân tâm.”…

(Ngô Tuần)


Bố cục

Bố cục: 3 phần

– Phần 1. “Xưa nhà Thương… không dời đổi”: Cơ sở lịch sử và thực tiễn của việc dời đô.

– Phần 2. “Huống gì thành Đại La…. đế vương muôn đời”: Lí do chọn thành Đại La làm kinh đô

– Phần 3. Đoạn còn lại: Quyết định dời đổi.

ND chính

Chiếu dời đô phản ánh khát vọng của nhân dân về một đất nước độc lập, thống nhất, đồng thời phản ánh ý chí tự cường của dân tộc Đại Việt đang trên đà lớn mạnh.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

3

Bài soạn “Chiếu dời đô” số 3

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả: (các em tham khảo phần giới thiệu về Lí Công Uẩn trong SGK Ngữ văn 8 Tập 2).

2. Tác phẩm

* Xuất xứ: Vào năm Canh Tuất niên hiệu Thuận Thiên thứ nhất (1010), Lí Công Uẩn đã viết bài chiếu bày tỏ ý định dời đô từ Hoa Lư (nay thuộc tỉnh Ninh Bình) ra thành Đại La (tức Hà Nội ngày nay). Văn bản Chiếu dời đô là do Nguyễn Đức Vân dịch.

* Thể loại: Văn bản Chiếu dời đô được viết theo thể loại chiếu. Chiếu là thể văn do vua dùng để ban bố mệnh lệnh. Chiếu có thể viết bằng văn vần, văn biền ngẫu hoặc văn xuôi; được công bố và đón nhận một cách trang trọng. Một số bài chiếu thể hiện tư tưởng chính trị lớn lao, có ảnh hưởng đến vận mệnh của cả triều đại, đất nước.

Mặc dù là một bài chiếu có ý nghĩa ban bố mệnh lệnh, nhưng Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn rất có sức thuyết phục bởi nó hợp với lẽ trời, lòng dân. Tác giả đã sử dụng một hệ thống lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, giọng điệu mạnh mẽ để dân chúng tin tưởng vào quyết định dời đô của mình.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Mở đầu Chiếu dời đô, Lí Công Uẩn viện dẫn sử sách Trung Quốc nói về việc các vua đời xưa bên Trung Quốc cũng từng có những cuộc dời đô. Sự viện dẫn này nhằm mục đích khẳng định dời đô là một việc đã từng có người làm chứ không phải lần đầu tiên. Mặt khác, những triều đại Trung Quốc dời đô là thuận theo ý trời mà lại hợp với lòng dân. Không những thế, Lí Công Uẩn còn cho biết kết quả sau những lần dời đô của các triều đại Trung Quốc là mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu sau này. Sự viện dẫn này sẽ là cơ sở cho ý kiến dời đô được Lí Công Uẩn đưa ra ở những đoạn sau.

Câu 2:

* Theo Lí Công Uẩn, kinh đô cũ ở vùng núi Hoa Lư (Ninh Bình) của hai triều Đinh, Lê là không còn thích hợp, bởi vì hai nhà Đinh, Lê này đã làm theo ý riêng của mình, khinh thường mệnh trời, nhất quyết không theo dấu cũ của Thương, Chu, chính điều này đã dẫn đến hậu quả là “khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tốn, muôn vật không được thích nghi”.

Tuy nhiên, nếu xét trên thực tế, hai triều đại Đinh, Lê vì thế lực còn yếu nên phải chọn nơi vùng núi đá vôi hiểm trở ở Ninh Bình để đóng đô, từ đó có thể dễ bề chống lại sự xâm lược của các thế lực phương Bắc.

Câu 3:

Theo tác giả, địa thế thành Đại La có những thuận lợi để có thể chọn làm nơi đóng đô là:

Đại La là kinh đô cũ của Cao Vương.
Ở nơi trung tâm trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi => địa thế rất đẹp trong thuật phong thủy
Đại La có những ưu điểm là rộng rãi, bằng phẳng, cao ráo, thoáng đãng => dân sẽ không phải chịu ngập lụt, muôn vật phong phú, tốt tươi.
=> Đại La sẽ là đầu mối trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của đất nước.

Câu 4:

Chứng minh Chiếu dời đô có sức thuyết phục lớn bởi có sự kết hợp giữa lí và tình.

* Về lí:

Tác giả đã đưa ra những dẫn chứng là sử sách làm tiền đề để khẳng định việc dời đô là hoàn toàn hợp lý, thuận với lẽ trời.
Đưa ra những lập luận đầy sức thuyết phục về địa thế thuận lợi của thành Đại La.
* Về tình:

Những lời đối thoại, trao đổi như “Trẫm rất đau xót về việc đó”, hay câu cuối bài chiếu “Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. Các khanh nghĩ thế nào?” không phải là mệnh lệnh của vua ban mà là một câu hỏi mang tính chất đối thoại => Tạo sự gần gũi giữa nhà vua và dân chúng, thể hiện tinh thần dân chủ và tăng thêm sức thuyết phục của bài chiếu.


Câu 5:

Nói việc Chiếu dời đô ra đời phản ánh ý chí độc lập, tự cường và sự phát triển lớn mạnh của dân tộc Đại Việt là vì khi quyết định dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La tức là nhà Lí cũng đủ sức để chấm dứt nạn phong kiến, đồng thời, khẳng định thế lực của Đại Việt cũng sánh ngang với thế lực của các nước phương Bắc. Mặt khác, việc đóng đô ở Đại La cũng là thuận theo nguyện vọng của nhân dân muốn thu giang san về một mối và nguyện vọng xây dựng đất nước độc lập, tự cường.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

4

Bài soạn “Chiếu dời đô” số 4

A. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

1. Tác giả:

Lí Công Uẩn: (974 – 1028) tức Lí Thái Tổ.
Quê quán: người châu Cổ Pháp, giải phóng Bắc Giang (nay là đảo Đình Sơn, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Ông là người thông minh, nhân ái, có chí lớn và lập nhiều chiến công.

2. Thể loại: Chiếu

Thể văn do vua dùng đề ban bố mệnh lệnh
Chữ có thể viết bằng văn bản, văn bẩn hoặc văn xuôi.
Được công bố và đón nhận một cách trang trọng

3. Tác phẩm

Chiếu dời đô được viết vào năm Canh Tuất (1010), muốn dời đô từ Hoa Lư nhỏ hẹp đến Đại La rộng, thuận tiện cho việc mở mang và củng cố, bảo vệ đất nước.
Tuy là một bài có ý nghĩa lệnh mệnh lệnh nhưng Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn có sức mạnh thuyết phục mạnh mẽ vì đúng ý nguyện của dân, hợp lí, hợp tình
Tác giả đã sử dụng hệ thống tài liệu chặt chẽ, biểu tượng nhỏ gọn, giọng điệu mạnh mẽ, khoẻ mạnh để thuyết trình cho người dùng và ủng hộ bản thân mình.
Văn bản Chiêu dời đô thành Nguyễn Đức Vân dịch.

B. BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI

Câu 1: Trang 51 sgk ngữ văn 8 tập 2

Mở đầu chiếu dời đô, Lí Công Uẩn viện dẫn sử sách Trung Quốc nói về việc các vua đời xưa bên Trung Quốc cũng từng có những cuộc dời đô. Sự viện dẫn đó nhằm mục đích gì?

Bài làm:
Đây là đoạn văn có tính chất nêu tiền đề, làm chỗ dựa cho lý lẽ ở những phần tiếp theo. Trong đoạn này, tác giả viện dẫn sử sách nói về việc dời đô của các vua thời xưa bên Trung Quốc.
“Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam Đại; ấy theo ý riêng tự tiện dời đô. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh.”
Sự viện dẫn trên nhằm mục đích: chuẩn bị cho lý lẽ ở phần sau: Trong lịch sử đã từng có chuyện dời đô và đã từng đem lại những kết quả tốt đẹp. Việc Lý Thái Tổ dời đô không có gì là khác thường, trái với quy luật. Bởi bài học dời đô của nhà Thương và nhà Chu đã cho thấy sau này đất nước phát triển phồn thịnh.

Câu 2: Trang 51 sgk ngữ văn 8 tập 2
Theo Lí Công Uẩn, kinh đô cũ ở vùng núi Hoa Lư (Ninh Bình) của hai triều Đinh, Lê là không còn thích hợp, vì sao? Xem lại chú thích (8) ở trên để hiểu lí do khiến hai triều Đinh, Lê vẫn phải dựa vào vùng núi Hoa Lư để đóng đô.)
Bài làm:
Tác giả nhận định rằng việc đóng đô ở vùng Hoa Lư đã không còn phù hợp nữa: “Cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số phận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tổn, muôn vật không được thích nghi“. Hoa Lư là vùng có địa thế hiểm trở, khi tiềm lực phát triển chưa đủ mạnh thì nó hợp với chiến lược phòng thủ.
Nhưng đến đời Lí thì đất nước đặt ra nhu cầu phát triển, cho nên đô thành phải dời chuyển ra nơi có địa thế khác. Không chỉ có lí lẽ, Lí Công Uẩn bày tỏ cả tấm lòng mình: “Trẫm rất đau xót về việc đó“.


Câu 3: Trang 51 sgk ngữ văn 8 tập 2

Theo tác giả, địa thế thành Đại La có những thuận lợi gì để có thể chọn làm nơi đóng đô? (Chú ý vị trí địa lí, hình thế sông núi, sự thuận tiện trong giao lưu, phát triển về mọi mặt.)
Bài làm:
Vị thế thành Đại La thuận lợi về nhiều mặt. Về mặt địa lí, tác giả phân tích rõ: “Nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi“, bốn hướng đều thông thoáng lại ở thế “nhìn sông dựa núi” vững vàng, “địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng“. Trên địa thế ấy, dân cư sẽ tránh được lụt lội mà “muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi“.
Thuận lợi về mặt địa lí như vậy sẽ kéo theo những thuận lợi về thông thương, giao lưu: “Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước“.
Nơi định đô mới này sẽ đáp ứng được vai trò là đầu mối trung tâm của kinh tế, chính trị, văn hoá của đất nước.

Câu 4: Trang 51 sgk ngữ văn 8 tập 2
Chứng minh Chiếu dời đô có sức thuyết phục lớn bởi có sự kết hợp giữa lí và tình.
(Gợi ý:
– Trình tự lí lẽ mà Lí Công Uẩn đưa ra để khẳng định việc cần thiết phải dời đô.
– Lời ban bố mệnh lệnh mà lại có những đoạn bày tỏ nỗi lòng, có những lời như đối thoại. Ngôn từ mang tính chất đối thoại, tâm tình ở hai câu cuối bài chiếu có tác dụng như thế nào?
Bài làm:
Trình tự lập luận cho việc cần thiết phải dời đô:
Nêu sử sách bên Trung Quốc làm tiền đề, làm chỗ dựa cho lý lẽ.
Soi tiền đề vào thực tế của hai triều đại Đinh, Lê để chỉ rõ thực tế ấy không còn thích hợp với sự phát triển của đất nước, cần thiết phải dời đô.
Đi tới kết luận: Khẳng định thành Đại La là nơi tốt nhất để chọn làm Kinh Đô.
Đây là lời ban bố mệnh lệnh nhưng lại có những đoạn bày tỏ nỗi lòng, có những lời như đối thoại, trao đổi. Ví như “Trẫm rất đau xót về việc đó”, đặc biệt là hai câu cuối bài chiếu tại tính chất đối thoại và trao đổi chứ không phải là tính chất đơn thoại, một chiều của người trên ban bố cho kẻ dưới. Và vì thế, lời văn tạo nên sự đồng cảm sâu sắc giữa mệnh lệnh của vua với thần dân, ai ai cũng xúc động.

Câu 5: Trang 51 sgk ngữ văn 8 tập 2
Vì sao nói việc Chiếu dời đô ra đời phản ánh ý chí độc lập, tự cường và sự phát triển lớn mạnh của dân tộc Đại Việt?
Bài làm:
Vùng Hoa Lư là vùng núi hiểm trở, khi đất nước còn chưa ổn định phát triển thì đây là nơi chiến lược phòng thủ.
Đến thời nhà Lí, Lí Công Uẩn giám dời đô ra vùng đồng bằng chứng tỏ nhà Lí đã có đủ thực lực để xây dựng đất nước, phát triển kinh thế. Có thể trấn an dân chúng, chống lại giặc ngoại xâm.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

5

Bài soạn “Chiếu dời đô” số 5

I. VÀI NÉT VỂ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM

Trước khi tìm hiểu tác phẩm, cần xem kĩ những chú thích của SGK Ngữ văn 8, tập 2, trang 50 để hiểu rõ về tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.

1. Tác giả

Lí Công Uẩn (974 – 1028) người châu cổ Pháp, lộ Bắc Giang (nay thuộc Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh). Ngay từ khi mới 3 tuổi, ông đã được đưa vào chùa Lục Tổ để nuôi dạy ông là người rất thông minh, có chí lớn và đã lập nhiều chiến công. Lí Công Uẩn được cử làm Điện tiền chỉ huy sứ đời Lê Trang Tông (1005), Tứ sương quân phó chỉ huy sứ rồi Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ đời Lê Ngoạ Triều (1005 – 1009). Sau khi Ngoạ Triều Lê Long Đĩnh mất, triều thần suy tôn Lí Công uẩn lên ngôi vua, sáng lập ra vương triều Lí (1009 – 1225).

2. Tác phẩm

Sau khi lên ngôi, vua Lí Thái Tổ đưa ra một quyết định vô cùng quan trọng là dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La và đổi tên thành Thăng Long (rồng bay lên) vào năm 1010.

Để thuyết phục dân chúng, nói rõ sự mưu tính nghiệp lớn của mình trong quyết định này, Lí Công uẩn đã soạn ‘‘Chiếu dời đô ”, ban bô” rộng rãi trong dân chúng.

II. HƯỚNG DẪN HỌC SINH TÌM HlỂU TÁC PHẨM

1. Câu hỏi 1 (SGK, trang 51)

a. Hướng dẫn tìm hiểu

Đọc kĩ đoạn văn “Xưa nhà Thương (…) phong tục phồn thịnh” và các chú thích trong SGK trang 50 để hiểu nội dung của đoạn văn. Có thể liên hệ kiến thức về nhà Chu, Thương ở Trung Quôc để giải thích tại sao tác giả lại dẫn những cứ liệu đó.

“Chiếu dời đô “ là bản chiếu do vua Lí Công Uẩn ban bố về việc dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La. Tính thuyết phục được tác giả đặc biệt chú ý. Đe có tính thuyết phục thì người viết phải sử dụng nhiều cứ liệu có tính xác thực cao, tạo niềm tin cho người đọc, người nghe.

Ngay đầu tác phẩm, Lí Công uẩn đã viện dẫn cứ liệu từ chính lịch sử của Trung Quốc và việc các vua nhà Thương, Chu đã từng dời đô. Mà không phải chỉ có một lần. Thời nhà Thương, từ vua đầu tiên là Thang đến vua thứ mười bảy (Bàn Canh) đã có tới năm lần dời đô, nhà Chu đến vua Thành Vương phải dời đô ba lần.

Chính vì thế, việc dời đô cũng chỉ vì “quốc mạnh dân yên”. Đó là những chứng cứ lịch sử rất cụ thể, có thực trong lịch sử của chính quốc gia láng giềng. Như vậy, việc dời đô không còn là chuyện hi hữu, mà đó là kinh nghiệm lịch sử, phản ánh xu thế phát triển lịch sử của từng quốc gia, từng thời đại. Sự viện dẫn đó chính là cơ sở để vua Lí Công uẩn đưa ý kiến dời đô của mình và muốn dân chúng hiểu sự thay đổi đó là hoàn toàn có cơ sở.

2. Câu hỏi 2 (SGK, trang 51)

a. Hướng dẫn tìm hiểu

Đọc đoạn văn: “Thế mà (…) không thì không dời được’’ và xem chú thích (8) SGK, trang 50 để hiểu ,về việc hai nhà Đinh, Lê đóng đô ở Hoa Lư. Chú ý đến đoạn văn thể hiện thái độ của vua Lí Công uẩn.

b. Gợi ý trả lời

Theo Lí Công Uẩn, việc hai nhà Đinh, Lê trước đây chọn Hoa Lư làm kinh đô hiện nay đã không còn phù hợp nữa. Bởi trước đây khi thế và lực của một quốc gia còn non trẻ, mới giành được độc lập sau gần một nghìn năm Bắc thuộc. Thêm vào đó, lại phải liên tục chống lại sự xâm chiếm của ngoại bang, nên các vua Đinh, Tiền Lê vẫn phải lựa chọn nơi núi non hiểm trở, tận dụng được ưu thế về địa hình tự nhiên là nơi đóng đô. Và đó là việc làm theo “ý riêng mình khinh thường mệnh trời, không noi theo dâu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi, đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tốn, muôn vật không được thích nghi”.

Như vậy, chứng tỏ nhận xét của Lí Công Uẩn có phần xác đáng và có căn cứ. Ông không chỉ lấy lịch sử Trung Quốc làm quy chuẩn để nhận xét mà còn căn cứ vào tình hình thực tế của đất nước, đời sống của nhân dân. Đất nước không được phồn thịnh, dân chúng không yên ổn không chỉ làm người đứng đầu quốc gia phải suy nghĩ mà cảm thấy “rất đau xót”. Sau tất cả những phân tích, sự viện dẫn cứ liệu lịch sử, tác giả khẳng định chắc chắn: “Không thể không dời đô

3. Câu hỏi 3 (SGK, trang 51)

a. Hướng dẫn tìm hiểu

Dựa trên tất cả những phân tích của Lí Công Uẩn thì dòi đô là việc không thể tránh khỏi, một tất yếu. Nhưng điều quan trọng là đâu sẽ là nơi để dựng kinh đô mới? Một câu hỏi không dễ có lời đáp. Nhưng bằng con mắt nhìn xa trông rộng, tài “hoạch định” của mình, Lí Công uẩn quyết định chọn thành Đại La làm nơi dựng đô. Vào thời điểm đó, nhà Lí vừa mới được thành lập, làm sao để thuyết phục dân chúng thuận lòng chọn một vùng đất mới, trong khi Hoa Lư đã là kinh đô của hai triều đại. Chính vì thế, trong bài Chiếu, Lí Công uẩn đã đưa ra nhiều dẫn chứng rất cụ thể:

Trước hết, thành Đại La vốn là kinh đô của Cao Vương. Theo chính sử có chép: khi được vua Đường cử giữ chức Đô hộ sứ Giao Châu (tên nước ta thòi đó), Cao Biền đã chọn thành Đại La làm nơi đóng đô, thủ phủ của chính quyền thông trị. Chính vì thế, ngay từ cuối thế kỉ IX, vị thế của vùng đất này đã được chú ý đến.

Thêm vào đó, thành Đại La còn có được địạ thế, điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi, là nơi trụng tâm trời đất, rồng cuộn hổ ngồi, hướng nhìn sông dựa núi. Vùng đất này tập trung các mặt thuận lợi của chốn địa linh: “rộng mà bằng, cao mà thoáng ”, người dân yên tâm an cư lập nghiệp, không sợ thiên tai, lũ lụt.

Tóm lại, Đại La là “thắng cảnh”, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá và qùếc phòng. Đó là nơi xứng đáng được gọi là “‘kinh đô bậc nhất của đê vương muôn đời Những “dẫn chứng” này cho thấy tầm nhìn chiến lược của Lí Công uẩn về Đại La, nơi sẽ dòi đô đến. Một cái nhìn toàn diện, sâu sắc, chính xác về các mặt vị trí địa lí, địa thế nhân văn. Sau một nghìn năm, Hà Nội đã trỏ thành thủ đô hoà bình của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, chúng ta càng thấy Lí Công Uẩn trong việc dời đô Hoa Lư lên thành Đại La là vô cùng sáng suốt. Đó thực sự là một kì công, một công hiến vô cùng vĩ đại “mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu ”, thể hiện tầm nhìn chiến lược, sáng suốt của vua Lí Công Uẩn.

4. Câu hỏi 4 (SGK, trang 51)

“Chiếu dời đô” trước hết là một văn bản hành chính có kết cấu hết sức chặt chẽ với hệ thống lí lẽ. Mở đầu bản chiếu, Lí Công Uẩn đưa ra dẫn chứng rất cụ thể (từ thực tế lịch sử Trung Quốc) về việc dời đô. Sau đó soi chiếu vào lịch sử nước ta hai triều Đinh, tiền Lê, không thuận theo lẽ đó nên khiến cho dân chúng phải hao tổn mà đất nước không thể cường thịnh lên được. Từ hai viện dẫn đó, Lí Công uẩn đưa ra sự khẳng định chắc chắn cho việc dời đô của mình là hoàn toàn hợp lí và có căn cứ.

Tiếp theo là một loạt dẫn chứng về ưu thế của vùng đất mới được chộn là kinh đô nước Đại Việt độc lập. Các lí lẽ đưa ra rất toàn diện về vị trí, địa thế, nhân văn của mảnh đất trọng yếu này. Như vậy, có thể thấy hệ thống lí lẽ được Lí Công Uẩn sắp xếp theọ một trình tự rất chặt chẽ tạo nên hiệu quả thuyết phục rất cao đối với người nghe. Nhưng thêm vào đó, tính thuyết phục còn được tạo nên bởi những từ ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và có sức biểu cảm. Thay vào những câu mệnh lệnh, tuyên bố là những lời văn rất giàu cảm xúc thể hiện tình cảm tha thiết của người viết: “Trẫm vô cùng đau xót…

Tất cả những yếu tố trên được kết hợp một cách nhuần nhuyễn, làm nên thành công của bài văn. Nó có hiệu quả thuyết phục trực tiếp đối với người nghe vì đáp lại câu hỏi của Lí Công Uẩn: Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. Các khanh nghĩ thế nào ?” bầy tôi đều nói: “Bệ hạ nhờ thiên hạ mà lập kế dài lâu.. Việc lợi như thế, ai dám không theo (Theo Đại Việt sử kí toàn thư, tập 1, NXB Văn hoá – Thông tin, Hà Nội, 2004, trang 259). Và sau gần 10 thế kỉ, chúng ta vẫn cảm thấy một sức thuyết phục kì lạ từ những lòi lẽ của bài văn này.

5. Câu hỏi 5 (SGK, trang 51)

Sự ra đời của “Chiếu dời đô ” đánh dấu một mốc son mở đầu cho trang sử vẻ vang của mảnh đất Thăng Long ngàn năm văn hiến. Trong những ngôn từ rất trang trọng, mang khẩu khí của bậc đế vương như phản ánh ý chí độc lập, tự cường của dân tộc ta. Bởi ở đây có nói đến vai trò của một kinh đô đối với nền chính trị của triều đại và phồn thịnh của đất nước. Lí Công uẩn muốn chọn một nơi đất “thắng địa” không phải chỉ để “phát nghiệp đế vương”, củng cố sự trị vì của triều đại mà còn xây dựng một quốc gia độc lập, thịnh trị.

Việc dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La cũng chứng tỏ sự lớn mạnh về cả thế và lực của nước ta khi đó bởi những triều đại Đinh, Lê dù đã giành được độc lập sau gần 1000 năm thống trị của phong kiến phương Bắc nhưng vẫn còn hết sức non trẻ, nên khi xây dựng kinh đô vẫn phải chọn Hoa Lư, dù rất “chật hẹp ẩm thấp”, cốt dựa vào sông sâu núi cao, địa thế hiểm trở để đóng đô và phòng thủ. Nhưng bước sang thế kỉ XI, thế nước đã thay đổi, Đại Việt đã bước vào thời kì độc lập, tự chủ, phồn thịnh. Vì thế, tiếp tục đóng đô ở Hoa Lư không còn phù hợp nữa. Quyết định dời đô ra Thăng Long là một sáng kiến rất táo bạo của Lí Công Uẩn và cũng là kết quả tất yếu.của lịch sử khi đất nước bước vào thời kì phát triển.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

6

Bài soạn “Chiếu dời đô” số 6

I. Đôi nét về tác giả Lý Thái Tổ
– Lí Công Uẩn (974-1028) tức Lí Thái Tổ
– Quê quán: Là người châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang (nay là xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh)
– Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác:
+ Ông là người thông minh, có chí lớn, lập được nhiều chiến công
+ Dưới thời Lê ông làm chức Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ
+ Khi Lê Ngọa mất ông được tôn lên làm vua lấy niên hiệu là Thuận Thiên.
– Phong cách sáng tác: Sáng tác của ông chủ yếu là để ban bố mệnh lệnh, thể hiện tư tưởng chính trị lớn lao có ảnh hưởng đến vận nước


II. Đôi nét về tác phẩm Chiếu dời đô
1. Hoàn cảnh sáng tác
– Năm 1010, Lí Công Uẩn quyết định dời đô từ Hoa Lư ra Đại La, đổi tên Đại Việt thành Đại Cồ Việt. Nhân dịp này ông đã viết bài chiếu để thông báo rộng rãi quyết định cho nhân dân được biết
2. Bố cục
– Phần 1: Từ “Xưa nhà Thương” đến “không thể không dời đổi”: Đưa ra những lí do, cơ sở của việc dời đô.
– Phần 2: “Huống gì” đến “muôn đời”: Những lí do chọn Đại La làm kinh đô
– Phần 3: Còn lại: Thông báo quyết định dời đô
3. Giá trị nội dung
– Bài Chiếu phản ánh khát vọng của nhân dân về một dân tộc độc lập thống nhất đồng thời phản ánh ý chí tự cường của dân tộc Đại Việt trên đà lớn mạnh
4. Giá trị nghệ thuật
– Chiếu dời đô là áng văn chính luận đặc sắc viết theo lối biền ngẫu, các vế đối nhau cân xứng nhịp nhàng
– Cách lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc sảo rõ ràng.
– Dẫn chứng tiêu biểu giàu sức thuyết phục.
– Có sự kết hợp hài hòa giữa tình và lí.


Câu 1. Đây là đoạn văn có tính chất nêu tiền đề, làm chỗ dựa cho lý lẽ ở những phần tiếp theo. Trong đoạn này, tác giả viện dẫn sử sách nói về việc dời đô của các vua thời xưa bên Trung Quốc.

– Thời nhà Thương năm lần dời đô, nhà Chu ba lần dời đô nhằm mục đích mưu toan nghiệp lớn, xây dựng vương triều phồn thịnh, tính kế lâu dài cho các thế hệ sau. Việc dời đô vừa thuận theo mệnh trời (tức phù hợp với quy luật khách quan) vừa thuận theo ý dân (phù hợp với nguyện vọng của nhân dân).

– Kết quả của việc dời đô là làm cho đất nước vững bền, phát triển thịnh vượng.

– Lý Thái Tố dẫn số liệu cụ thể về các lần dời đô cua hai triều Thương, Chu đế chuẩn bị cho lý lẽ ở phần sau: Trong lịch sử đã từng có chuyện dời đô và đã từng đem lại những kết quả tốt đẹp. Việc Lý Thái Tố dời đô không có gì là khác thường, trái với quy luật.

Câu 2: Soi sử sách vào tình hình thực tế, nhận xét có tính chất phê phán hai triều Đinh, Lê cứ đóng yên đô thành ở vùng núi Hoa Lư. Theo tác giả, việc không dời đô sẽ phạm những sai lầm: không theo mệnh trời (không phù hợp với quy luật khách quan), không biết học theo cái đúng của người xưa và hậu quả là triều đại thì ngắn ngủi nhân dân thì khố cực, vạn vật không thích nghi, không thể phát triển thịnh vượng trong một vùng đất chật trội.

Thực ra việc hai triều Đinh, Lê vẫn cứ phải đóng đô ở Hoa Lư chứng tỏ thế và lực của hai triều đại ấy chưa đủ mạnh đế ra nơi đồng bằng, đất phẳng, nơi trung tâm của đất nước mà vẫn còn phải dựa vào địa thế núi rừng hiểm trở. Đến thời Lý, trong đà phát triển đi lên của đất nước thì việc đóng đô ở Hoa Lư là không còn phù hợp nữa

Câu 3: Theo tác giả, địa thế thành Đại La có nhiều lợi thế thuận lợi để có thể chọn làm nơi đóng đô:

– Về vị trí địa lý: Ở nơi trung tâm đất trời, mở ra bốn phương Nam Bắc Đông Tây. có núi lại có sông: đất rộng mà bằng phẳng, cao mà thoáng, tránh được nạn lụt lội, chật trội.

Quảng cáo

– Về vị thế chính trị văn hóa: là đầu mối giao lưu “chốn tụ hội của bốn phương trời”, là mảnh đất hưng thịnh “muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi”.

Về tất cả các mặt thành Đại La có đủ mọi điều kiện để trở thành kinh đô của đất nước.

Câu 4. “Chiếu dời đô” là một bài văn nghị luận giàu sức thuyêt phục bởi có sự kết hợp giữa lý và tình.

a. Trình tự lập luận cho việc cần thiết phải dời đô:

– Nêu sử sách làm tiền đề, làm chỗ dựa cho lý lẽ.

– Soi sáng tiền đề vào thực tế hai triều đại Đinh, Lê đế chỉ rõ thực tế ấy không còn thích hợp với sự phát triển của đất nước, cần thiết phải đời đô.

– Đi tới kết luận: Khẳng định thành Đại La là nơi tốt nhất để chọn làm kinh đô.

– Kết cấu 3 đoạn nói trên là rất tiêu biểu cho kết cấu của văn nghị luận, trình tự lập luận nói trên là rất chặt chẽ.

b. Đây là lời ban bố mệnh lệnh nhưng lại có những đoạn bày tỏ nỗi lòng, có những lời như đối thoại, trao đổi. Ví như “Trẫm rất đau xót về việc đó đặc biệt là hai câu cuối bài chiếu tạo tính chất đối thọai và trao đổi chứ không phải là tính chất đơn thoại, một chiều của người trên ban bố cho kẻ dưới. Và vì thế, lời văn tạo nên sự đồng cảm sâu sắc giữa mệnh lệnh của vua với thần dân, ai ai cũng xúc động.

Câu 5: Dời đô từ vùng núi Hoa Lư ra vùng đồng bằng đất rộng chứng tỏ triều đình nhà Lý đủ sức chấm dứt nạn phong kiến cát cứ, thế và lực của dân tộc Đại Việt đủ sức sánh ngang hàng phương Bắc. Định đô ở Thăng Long là thực hiện nguyện vọng của nhân dân thu giang sơn về một mối, nguyện vọng xây dựng đất nước độc lập, tự cường.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Top 6 Bài soạn “Chiếu dời đô” của Lý Công Uẩn lớp 8 hay nhất

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chuyển lên trên