Top 6 Bài soạn “Đồng chí” của Chính Hữu lớp 9 hay nhất

Top 6 Bài soạn “Đồng chí” của Chính Hữu lớp 9 hay nhất

Bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu được sáng tác vào đầu năm 1948 sau khi tác giả cùng đồng đội tham gia chiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc (thu đông 1947) đánh bại cuộc tấn công quy mô lớn của giặc Pháp lên chiến khu Việt Bắc. Bài thơ là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất viết về người lính cách mạng của văn học thời kì kháng chiến chống Pháp (1946 -1954). Mời các bạn tham khảo một số bài soạn “Đồng chí” hay nhất mà Topz tổng hợp trong bài viết dưới đây để hiểu và chuẩn bị tốt nội dung tiết học.

1

Bài soạn “Đồng chí” số 1

Bố cục:

– Phần 1 (7 câu thơ đầu): Cơ sở hình thành tình đồng chí

– Phần 2 (11 câu thơ tiếp theo): Vẻ đẹp của người lính, vẻ đẹp của tình đồng chí

– Phần 3 (3 câu cuối): Biểu tượng tươi đẹp của tình đồng chí

Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 130 sgk ngữ văn 9 tập 1)

Dòng thứ bảy của bài thơ có cấu tạo đặc biệt “Đồng chí!” Câu thơ mở ra mối quan hệ thiêng liêng giữa những người lính

– Câu thơ như dấu gạch nối giữa cơ sở, nguồn gốc của tình đồng chí ở 6 câu thơ đầu với biểu hiện cụ thể, cảm động của tình đồng chí trong những câu thơ còn lại.

Câu 2 (trang 130 sgk ngữ văn 9 tập 1)

Cơ sở hình thành tình đồng chí:

+ Những người lính từ những miền quê nghèo khó hội tụ về chung đơn vị

+ Sự chia sẻ hoàn cảnh chiến đấu, hoàn cảnh chiến đấu

+ Sự đồng cảm trước những thiếu thốn về vật chất trong quá trình chiến đấu

+ Những người lính có chung lý tưởng, nhiệm vụ chiến đấu

+ Tình đồng đội, đồng chí nảy nở từ sự chung nhiệm vụ trong chiến đấu

+ Từ “xa lạ” trở thành “tri kỉ” (Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ)

→ Cơ sở hình thành tình đồng chí bắt nguồn từ việc chung hoàn cảnh xuất thân, hoàn cảnh chiến đấu, sự sẻ chia, đồng cảm thiếu thốn vật chất trong chiến đấu

Câu 3 (trang 130 sgk ngữ văn 9 tập 1)

Hình ảnh chi tiết biểu hiện tình đồng chí, đồng đội làm nên sức mạnh tinh thần của những người lính cách mạng

+ Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ

+ Áo anh rác vai/ Quần tôi có vài mảnh vá

+ Thương nhau tay nắm lấy bàn tay

→ Chi tiết, hình ảnh chân thực vừa có sức gợi cảm về tinh thần đồng đội, đồng chí gắn bó keo sơn của những người lính cách mạng

– Những biểu hiện cụ thể, cảm động của tình đồng chí

+ Sự cảm thông với tâm tư nỗi lòng của nhau

+ Cùng nhau chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời người lính

Câu 4 (trang 130 sgk ngữ văn 9 tập 1)

Ba câu thơ cuối là là biểu tượng về tình đồng chí:

– Hoàn cảnh chiến đấu của những người lính: rừng đêm hoang vắng, lạnh lẽo

– Những người lính đứng cạnh bên nhau trong tư thế chủ động “chờ giặc tới”

– Tình đồng chí, đồng đội sưởi ấm, tiếp thêm sức mạnh cho người lính chiến đấu.

– Hình ảnh cuối bài là kết tinh giữa chất hiện thực và lãng mạn:

+ Người lính – súng – vầng trăng

+ Trăng: biểu tượng của hòa bình, dịu êm

+ Súng: hiện thực, nhiệm vụ cầm súng vì tinh thần quyết chiến vì đất nước

– Hình ảnh đầu súng trăng treo mang ý nghĩa của sự kết tinh cao đẹp của tình đồng chí.

Câu 5 (trang 130 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

Tác giả đặt nhan đề “Đồng chí” vì toàn bộ nội dung bài thơ đều tập trung làm nổi bật vẻ đẹp của những người đồng chí, là những người cùng chí hướng, cùng lí tưởng, cùng tình yêu nước.

Câu 6 (trang 130 sgk ngữ văn 9 tập 1)

Những người lính trong thời kì kháng chiến chống Pháp:

– Xuất thân nghèo khó nhưng giàu tinh thần yêu nước, tinh thần kháng chiến

– Họ sẵn sàng hi sinh hạnh phúc cá nhân vì sự nghiệp kháng chiến

– Trong hoàn cảnh hiểm nguy, thiếu thốn của cuộc chiến họ vẫn lạc quan, chia sẻ với nhau mọi khó khăn

– Điều đẹp đẽ, thiêng liêng nhất là giữa họ luôn có sự đoàn kết, đồng cam cộng khổ với nhau

Luyện tập

Câu 1 (trang 131 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

Học thuộc lòng bài thơ

Câu 2 (trang 131 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1): Viết một đoạn văn trình bày …

Cảm nhận về đoạn thơ cuối bài thơ “Đồng chí” :

Đoạn cuối bài thơ mang một vẻ đẹp vừa hiện thực vừa lãng mạn. Hiện thực ở cảnh rừng hoang vu, ở người lính canh giữ chờ giặc, ở đầu súng nằm trong bàn tay cứng cỏi người bộ đội. Đồng thời những hình ảnh ấy cũng thật lãng mạn bởi tình đồng chí sưởi ấm không gian giá lạnh, khi mảnh trăng thơ thẩn đi chơi, níu giữ lại trên đầu ngọn súng. Một hình ảnh thật đẹp, thật thơ mộng, cây súng chiến tranh và mảnh trăng hòa bình, một tương lai tươi đẹp đang chờ đợi phía trước.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)


2

Bài soạn “Đồng chí” số 2

Trả lời câu 1 (trang 130 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

Dòng thơ thứ bảy có gì đặc biệt? Mạch cảm xúc và suy nghĩ trong bài thơ được triển khai thế nào trước và sau dòng thơ đó?

Lời giải chi tiết:

– Dòng thứ bảy của bài thơ là một từ với hai tiếng “Đồng chí” để xưng hô trong các cơ quan, đoàn thể, đơn vị bộ đội. Dòng thứ bảy của bài thơ có cấu tạo rất đặc biệt. Cả dòng thơ chỉ có một từ, hai tiếng và dấu chấm cảm: Đồng chí! Kiểu câu đặc biệt này tạo một nốt nhấn. Nó vang lên như một sự phát hiện, một lời khẳng định. Nó còn tựa như cái bắt tay thân thiết giữa những con người. Nó như cái bản lề gắn kết hai đoạn: Đoạn trước là cơ sở, nguồn gốc của tình đồng chỉ, đoạn sau là những biểu hiện cụ thể, cảm động của tình đồng chí.


Trả lời câu 2 (trang 130 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

Cơ sở hình thành tình đồng chí của người lính là gì?

Lời giải chi tiết:

– Bắt nguồn sâu xa từ sự tương đồng về cảnh ngộ xuất thân nghèo

Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Đó chính là cơ sở cùng chung giai cấp xuất thân của những người cách mạng. Chính điều đó cùng với mục đích, lý tưởng chung đã họ từ mọi phương trời xa tập hợp lại trong hàng ngũ quân đội cách và trở nên thân quen với nhau.

– Tình đồng chí được nảy sinh từ sự cùng chung nhiệm vụ sát cánh bên nhau trong chiến đấu: “Súng bên súng, đầu sát bẽn đầu”.

– Tình đồng chí, đồng đội nảy nở và thành bền chặt trong sự chia sẻ mọi gian lao cũng như niềm vui, đó là mối tình tri kỷ cùa những người bạn chí cốt, mà tác giả đã biểu hiện bằng một hình ảnh thật cụ thể, giản dị mà hết sức gợi cảm:

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ.


Trả lời câu 3 (trang 130 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

Những biểu hiện cảm động của tình đồng chí làm nên sức mạnh tinh thần của những người lính cách mạng. Phân tích ý nghĩa, giá trị những chi tiết, hình ảnh đó.

Lời giải chi tiết:

+ Tình đồng chí là sự cảm thông sâu sắc tâm tư nỗi niềm của nhau. Những người lính gắn bó với nhau, họ hiểu đến từng nỗi niềm sâu xa, thầm kín của đồng đội mình:

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.

Người lính đi chiến đấu đế lại sau lưng mình những gì thương quý nhất của quê hương: ruộng nương, gian nhà, giếng nước gốc đa.. Từ “mặc kệ” cho thấy tư thế ra đi dứt khoát của người lính. Nhưng sâu xa trong lòng, họ vẫn da diết nhớ quê hương, ở ngoài mặt trận, họ vẫn hình dung thấy những hình ảnh thân thuộc nơi quê nhà xa xôi.

+ Tình đồng chí còn là cùng nhau chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời người lính:

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi

Ảo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.

Những gian lao, thiếu thốn trong cuộc sống của người lính những năm kháng chiến chống Pháp hiện lên thật cụ thể, chân thực: áo rách, quần vá, chân không giày… sự từng trải của đời người lính đã cho Chính Hữu “biết” được sự khổ sở khi bị những cơn sốt rét rừng hành hạ: người nóng sốt hầm hập đến ướt cả mồ hôi mà vẫn cứ ớn lạnh đến run người. Và nếu không có sự từng trải ấy cũng không thể nào biết được cái cảm giác của “miệng cười buốt giá”: trời buốt giá, môi miệng khô và nứt nẻ, nói cười rất khó khăn, có khi nứt ra chảy cả máu. Thế nhưng những nguờí lính vẫn cười trong gian lao, bởi có hơi ấm và niềm vui của tình đồng đội “thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. Hơi ấm ở bàn tay, ở tấm lòng đã chiến thắng cái lạnh ở “chân không giày” và thời tiết “buốt giá”. Trong đoạn “anh” và “tôi” luôn đi với nhau, có khi đứng chung trong một câu thơ, khi đi sóng đôi trong từng cặp câu liền nhau. Cấu trúc ấy đã diễn tả gắn bó, chia sẻ của những người đồng đội.


Trả lời câu 4 (trang 130 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

Ba câu thơ cuối gợi lên cho em những suy nghĩ gì về người lính và cuộc chiến đấu? Hãy phân tích vẻ đẹp và ý nghĩa của hình ảnh trong những câu thơ ấy.

Lời giải chi tiết:

Ba câu cuối cùng kết thúc bài thơ bằng những hình ảnh thơ thật đẹp

Đêm nay rừng hoang sương muôi

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo.

Nổi lên trên nền cảnh rừng đêm hoang vắng, lạnh lẽo là hình ảnh người lính “đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”. Đó là hình ảnh cụ thể tình đồng chí sát cánh bên nhau trong chiến đấu. Họ đã “đứng cạnh nhau” giữa cái giá rét của rừng đêm, giữa cái căng thẳng của những giây phút “chờ giặc tới”. Tình đồng chí đã sưởi ấm lòng họ, giúp họ vượt lên tất cả.

Câu thơ cuối cùng mới thật đặc sắc: “Đầu súng trăng treo”. Đó là hình ảnh thật mà bản thân Chính Hữu đã nhận ra trong những đêm phục kích giữa rừng khuya: “ suốt đêm vầng trăng từ bầu trời cao xuống thấp dần và có lúc như treo lơ lửng trên đầu mũi súng. Những đêm phục kích chờ giặc, vầng trăng đối với chúng tôi như một người bạn; rừng hoang sương muối là một khung cảnh thật..”. Nhưng đó còn là một hình ảnh độc đáo, có sức gợi nhiều liên tưởng phong phú, sâu xa. “Súng” – biểu tượng cho chiến tranh, cho hiện thực khốc liệt. “Trăng” – biểu tượng vẻ đẹp yên bình, mơ mộng và lãng mạn. Hai hình ảnh “súng” và “trărng kết hợp với nhau tạo nên một biểu tượng đẹp về cuộc đời người lính – chiến sĩ mà thi sĩ, thực tại mà mơ mộng. Hình ảnh ấy mang được cả đặc điểm của thơ ca kháng chiến – một nền thơ giàu chất hiện thực và dào cảm hứng lãng mạn. Vì vậy mà câu thơ này đã được Chính Hữu chọn làm nhan đề cho cả một tập thơ – tập Đầu súng trăng treo.

Đoạn kết bài thơ là một bức tranh đẹp về tình đồng chí, đồng đội người lính.


Trả lời câu 5 (trang 130 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

Theo em, vì sao tác giả lại đặt tên cho bài thơ về tình đồng độc của những người lính là Đồng chí?

Lời giải chi tiết:

Bài thơ viết về tình đồng đội của người lính được tác giả đặt tên Đồng chí vì từ này có nghĩa chỉ những người cùng chung chí hướng, lí tưởng. Đây cách xưng hô của những người trong một đoàn thể cách mạng. Vì vậy tình đồng chí là bản chất cách mạng của tình đồng đội và thể hiện sắc tình đồng đội.


Trả lời câu 6 (trang 130 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

Qua bài thơ này, em có cảm nhận gì về hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ thời kháng chiến chống Pháp?

Lời giải chi tiết:

Qua bài thơ về tình đồng chí, hiện lên vẻ đẹp bình dị mà cao cả người lính cách mạng. Cụ thế là anh bộ đội hồi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp:

– Họ xuất thân từ nông dân (“Quê hương anh… sỏi đá”).

Họ sẵn sàng bỏ lại những gì quý giá thân thiết của cuộc sống nơi làng quê để ra đi vì nghĩa lớn: “Ruộng nương… lung lay”.

Hai chữ “mặc kệ” nói được cái dứt khóat mạnh mẽ có dáng dấp “trượng phu”. Những người lính nông dân ấy vẫn gắn bó, nặng lòng với làng quê thân yêu. Họ không hề vô tình, nếu không đã chẳng thể cảm nhận sự nhớ nhung của quê hương: “Giếng nước gốc đa nhớ người ra Lính”.

– Những người lính cách mạng trải qua những gian lao, thiếu thôn tột cùng.

Những cơn sốt run người, trang phục phong phanh giữa mùa đông giá lạnh (áo rách, quần vá, chân không giày). Nhưng gian lao thiếu thôn càng làm nổi bật vẻ đẹp của anh bộ đội: sáng lên nụ cười của người lính (miệng cười buốt giá).

– Nhưng sáng ngời trong họ là tinh thần đồng đội và ý chí quyết tâm đánh giặc.

Luyện tập

Viết đoạn văn trình bày cảm nhận của em về đoạn cuối bài thơ (ba câu cuối)

Lời giải chi tiết:

– Trong bức tranh ấy nổi bật lên ba hình ảnh gắn kết với nhau: người lính, khẩu súng, vầng trăng. Trong cảnh rừng hoang sương muối, những người lính đứng bên nhau chờ giặc tới. Sức mạnh của tình đồng đội giúp họ vượt qua mọi khó khăn, gian khổ. Bên cạnh họ còn có vầng trăng làm bạn.

– Hình ảnh đầu súng trăng treo còn mang ý nghĩa biểu tượng, gợi ra những liên tưởng phong phú, súng và trăng là gần và xa, thực tại và mơ mộng, chất chiến đấu và trữ tình, chiến sĩ và thi sĩ.

Bố cục

Bố cục: (3 phần)

– Phần 1 (6 câu đầu): Những cơ sở của tình đồng chí

– Phần 2 (11 câu tiếp): Những biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chi

– Phần 3 (3 câu cuối): Hình ảnh người lính trong đêm canh gác


Nội dung chính

Tình đồng chí của những người lính dựa trên cơ sở cùng chung cảnh ngộ và lí tưởng chiến đấu được thể hiện thật tự nhiên, bình dị mà sâu sắc trong mọi hoàn cảnh, nó góp phần quan trọng tạo nên sức mạnh và vẻ đẹp tinh thần của người lính cách mạng.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

3

Bài soạn “Đồng chí” số 3

I. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

Câu 1 trang 130 SGK Ngữ văn 9 tập 1: Dòng thứ bảy của bài thơ có gì đặc biệt? Mạch cảm xúc và suy nghĩ trong bài thơ được triển khai như thế nào trước và sau dòng thơ đó?Trả lời:
Dòng thơ thứ bảy của bài thơ chỉ có một từ “Đồng chí!” vang lên thật thiêng liêng, đẹp đẽ. Câu thơ thứ 7 chỉ có một từ với hai tiếng và dấu chấm than tạo thành một nốt nhấn, nó vang lên như một tiếng gọi thiết tha xúc động, vừa như một phát hiện, một lời khẳng định, đồng thời lại như một bản lề gắn kết hai đoạn thơ.


Câu 2 trang 130 SGK Ngữ văn 9 tập 1: Sáu dòng đầu bài thơ đã nói về cơ sở hình thành tình đồng chí của những người lính cách mạng. Cơ sở ấy là gì?Trả lời:
Cơ sở hình thành tình đồng chí của người lính cách mạng trước hết bắt nguồn sâu xa từ sự tương đồng về hoàn cảnh xuất thân. Những người lính ở đây đều là người con của những vùng quê nghèo khó: quê anh là vùng đất ven biển nước mặn đồng chua còn làng tôi là vùng trung du cằn cỗi đất cày lên sỏi đá. Tình đồng chí còn được nảy sinh từ sự cùng chung lí tưởng, nhiệm vụ chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc. Họ từ mọi phương trời xa lạ, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, về đây đứng trong cùng một hàng ngũ cách mạng. Những xa lạ ban đầu nhanh chóng qua đi bởi từ những tương đồng về cảnh ngộ, lí tưởng, họ đồng cảm thấu hiểu, chia sẻ với nhau những gian khổ thiếu thốn.


Câu 3 trang 130 SGK Ngữ văn 9 tập 1: Hãy tìm trong bài thơ những chi tiết, hình ảnh biểu hiện tình đồng chí, đồng đội làm nên sức mạnh tinh thần của những người lính cách mạng. Phân tích ý nghĩa, giá trị của những chi tiết, hình ảnh đó.
Trả lời:
Những chi tiết, hình ảnh biểu hiện tình đồng chí, đồng đội của những người lính: Đó là sự thấu hiểu và chia sẻ những tâm tư, hoàn cảnh, nỗi niềm của nhau:

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay

Họ sẵn sàng để lại tất cả những bề bộn lo toan, những thân thương quý giá nhất để ra đi vì nghĩa lớn. Hai chữ “mặc kệ” mang dáng dấp mạnh mẽ, dứt khoát của bậc trượng phu nhưng thực ra người lính ấy vẫn nặng lòng gắn bó với quê hương. Và không chỉ có quê hương nhớ người ra lính, hình như trong mỗi người lính ấy, hình bóng quê hương vẫn luôn thường trực, nỗi nhớ quê vẫn da diết vơi đầy. Tình đồng chí còn là sự đồng cam cộng khổ, cùng nhau chia sẻ những gian lao của cuộc đời người lính:
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi

Tất cả những khó khăn gian khổ được tái hiện bằng những hình ảnh hết sức chân thực, không hề tô vẽ. Phía sau những câu thơ nói về những vất vả, khổ cực trong kháng chiến ấy vẫn lặng lẽ đượm cháy một ngọn lửa nồng ấm của tình đồng chí, đồng đội. Nụ cười buốt giá của họ hiện lên thật lạc quan yêu đời. Dường như không khó khăn gian khổ nào có thể dập tắt được niềm tin và nghị lực của những người lính. Tình đồng chí còn là sự đoàn kết, động viên nhau. Đoạn thơ khép lại bằng một hình ảnh chan chứa tình nghĩa: Thương nhau tay nắm lấy bàn tay. Bàn tay giao cảm thay cho lời nói, đó là hình ảnh đẹp nhất của sự sẻ chia thầm lặng mà đầy sức mạnh giữa những người lính.


Câu 4 trang 130 SGK Ngữ văn 9 tập 1:
Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo
Những câu thơ trên gợi cho em suy nghĩ gì về người lính và cuộc chiến đấu? Hãy phân tích vẻ đẹp và ý nghĩa của hình ảnh trong những câu thơ ấy.Trả lời:
Ba câu thơ cuối là bức tranh đẹp mang ý nghĩa biểu tượng về tình đồng chí. Câu thơ Đêm nay rừng hoang sương muối gợi lên một không gian, thời gian cụ thể, một hoàn cảnh chiến đấu với thời tiết vô cùng khắc nghiệt. Nổi bật trên bức tranh ấy là hình ảnh những người lính kề vai sát cánh bên nhau chờ giặc tới trong tư thế chủ động hiện ngang, sẵn sàng chiến đấu. Trong khung cảnh ấy, đột ngột xuất hiện một hình ảnh mới lạ và độc đáo đầu súng trăng treo. Người lính, trong cảnh phục kích giặc giữa rừng khuya còn có một người bạn nữa là vầng trăng. Đầu súng trăng treo là hình ảnh nhận ra được từ đêm hành quân phục kích của chính tác giả. Cái ảo và cái thực hoà quện vào nhau tạo nên một liên tưởng bất ngờ, kì thú. Súng và trăng là gần và xa, là thực tại và mộng mơ, là chiến tranh và hoà bình, là chiến sĩ và thi sĩ, là anh và tôi, là đồng chí… Đó là các mặt bổ sung cho nhau, hài hoà với nhau của cuộc đời người lính.


Câu 5 trang 130 SGK Ngữ văn 9 tập 1: Theo em, vì sao tác giả lại đặt tên cho bài thơ về tình đồng đội của những người lính là Đồng chí ?Trả lời:
Bài thơ về tình đồng đội của những người lính được mang tên là “Đồng chí” vì đồng đội mới chỉ là cùng đơn vị, cùng đội ngũ còn đồng chí là cùng một chí hướng, cùng chung lí tưởng. Đồng chí là một từ rất mới mẻ, chỉ được dùng nhiều sau cách mạng. Đồng chí chính là nói đến tình cảm mới mẻ đó, nó còn cao hơn cả tình tri kỉ, nó là tình cảm của cả một đội quân: quân đội nhân dân Việt Nam.


Câu 6 trang 130 SGK Ngữ văn 9 tập 1: Qua bài thơ này, em có cảm nhận gì về hình ảnh anh bộ đội thời kháng chiến chống Pháp?Trả lời:
Hình ảnh anh bộ đội thời kháng chiến chống Pháp là một hình ảnh rất giản dị, mộc mạc nhưng rất đẹp. Các anh thiếu về trang bị: không có giày, quần áo rách, thiếu chăn, bệnh tật sốt rét làm hại sức khỏe các anh. Nhưng tình cảm đùm bọc gắn bó yêu thương rất cao. Tình đồng chí đoàn kết gắn bó là sức mạnh tinh thần của các anh, giúp các anh chiến thắng kẻ thù.


II. LUYỆN TẬP:
Viết một đoạn văn trình bày cảm nhận của em về đoạn cuối bài thơ Đồng Chí (“Đêm nay… trăng treo”).
Trả lời:
Đoạn văn trình bày cảm nhận của em về đoạn cuối bài thơ “Đồng chí”: Ba câu thơ cuối là bức tranh đẹp mang ý nghĩa biểu tượng về tình đồng chí:

“Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo”.

Đây là một khung cảnh có sự kết hợp hài hòa giữa chất hiện thực và chất lãng mạn. Hiện thực vì có thời gian là đêm khuya, không gian là rừng hoang sương muối và tình huống cụ thể là những người lính đang cầm súng đứng gác. Tất cả đều gợi lên sự khốc liệt, nghiệt ngã của chiến tranh bởi có thể chỉ chốc lát nữa thôi, quân thù xuất hiện, súng sẽ nổ và biết đâu trong số họ có người sẽ ngã xuống. Chất lãng mạn đọng lại ở câu thơ cuối; “Đầu súng trăng treo”. Đó là sự hòa quyện tuyệt vời giữa chất thực và chất lãng mạn. Khẩu súng trong tay và ánh trăng trên trời cao – một bên là biểu tượng cho chiến tranh khốc liệt, một bên là biểu tượng cho sự yên ả, thanh bình. Qua hình ảnh thơ ấy, tác giả còn khẳng định ý nghĩa cao cả của cuộc chiến đấu mà những người lính đang tham gia: Họ cầm súng chính là để bảo vệ sự bình yên cho đất nước, bảo vệ vầng trăng hòa bình.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

4

Bài soạn “Đồng chí” số 4

Tác giả và tác phẩm

– Chính Hữu (1926 – 2007), tên khai sinh là Trần Đình Đức, quê ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1946, ông gia nhập Trung đoàn Thủ đô và hoạt động trong quân đội suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Chính Hữu làm thơ từ năm 1947 và hầu như chỉ viết về người lính và chiến tranh. Tập thơ Đầu súng trăng treo (1966) là tác phẩm chính của ông. Thơ ông không nhiều nhưng có những bài đặc sắc, cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ và hình ảnh chọn lọc, hàm súc. Năm 2000, Chính Hữu được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

– Bài thơ Đồng chí được sáng tác vào đầu năm 1948, sau khi tác giả đã cùng đồng đội tham gia chiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc (thu đông 1947) đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của giặc Pháp lên chiến khu Việt Bắc. Bài thơ Đồng chí là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất viết về người lính cách mạng của văn học thời kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954).

Ghi chú

– Đồng chí: người có cùng chí hướng, lí tưởng. Người cùng ở trong một đoàn thể chính trị hay một tổ chức cách mạng thường gọi nhau là “đồng chí”. Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, “đồng chí” thành từ xưng hô quen thuộc trong các cơ quan, đoàn thể, đơn vị bộ đội.

– Nước mặn đồng chua: vùng đất nhiễm mặn ở ven biển và vùng đất phèn có độ chua cao, là những vùng đất xấu khó trồng trọt.

– Tri kỉ: biết mình; đôi tri kỉ: đôi bạn thân thiết (hiểu bạn như hiểu mình).

– Sương muối: sương giá đọng thành những hạt nhỏ trắng xoá như muối trên cây cỏ hay mặt đất. Ở miền Bắc nước ta về mùa đông, những ngày có sương muối trời rất rét.


Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 – Trang 130 SGK

Dòng thơ thứ bảy có gì đặc biệt? Mạch cảm xúc và suy nghĩ trong bài thơ được triển khai thế nào trước và sau dòng thơ đó?

Trả lời

Dòng thứ bảy của bài thơ có điều đặc biệt là dòng thơ chỉ có hai tiếng “Đồng chí” và dấu chấm cảm (!) như một phát hiện, một lời khẳng định sự kết tinh tình cảm giữa những người lính. Mạch cảm xúc trước và sau dòng thơ này được triển khai như sau:

– Sáu dòng đầu có thể xem là sự lí giải về cơ sở của tình đồng chí.

– Mười dòng tiếp theo, mạch cảm xúc sau khi dồn tụ ở dòng 7 lại tiếp tục khơi mở trong những hình ảnh, chi tiết biểu hiện cụ thể, thấm thía tình đồng chí và sức mạnh của nó.

Bố cục:

7 câu đầu: Sự lí giải về cơ sở của tình đồng chí.
Từ câu 8 đến 11: những biểu hiện của tình đồng chí.
Phần còn lại: Sức mạnh của tình đồng chí.
– Ba dòng cuối được tách ra thành một đoạn kết đọng lại những hình ảnh đặc sắc: “Đầu súng trăng treo” như là một biểu tượng thơ mộng về người chiến sĩ.

Câu 2 – Trang 130 SGK

Sáu dòng đầu bài thơ đã nói về cơ sở hình thành tình đồng chí của những người lính cách mạng. Cơ sở ấy là gì?

Trả lời

Cơ sở hình thành tình đồng chí của người lính là:

– Sự tương đồng về sự xuất thân nghèo khó, cùng giai cấp.

– Tình đồng chí còn nảy sinh khi có cùng một nhiệm vụ với nhau.

– Tình đồng chí thêm mặn mà khi cùng chia bùi sẻ ngọt bên nhau.

Câu 3 – Trang 130 SGK

Hãy tìm trong bài thơ những chi tiết, hình ảnh biểu hiện tình đồng chí, đồng đội làm nên sức mạnh tinh thần của những người lính cách mạng. Phân tích ý nghĩa, giá trị của những chi tiết đó, hình ảnh đó.

Trả lời

Từ câu 8 đến câu 17: Tình đồng chí là sự cảm thông hoàn cảnh xuất thân:

“Quê hương anh nước mặn đồng chua.

Làng tôi nghèo… đất cày lên sỏi đá”

Rồi những khi cùng nhau sát vai làm tròn nhiệm vụ: “súng bên súng, đầu sát bên đầu” cho đến khi cùng sống chết, cùng thức ngủ và ấm lạnh bên nhau: “đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”. Đến khi cùng chia sẻ nguy nan, tình đồng chí càng sâu sắc: “áo anh rách vai, quần tôi có vài mảnh vá, miệng cười, buốt giá chân không giày”… Thế nên chưa cần nói đã hiểu, chưa thốt lời đã thương nhau “tay nắm lấy bàn tay”.


Câu 4 – Trang 130 SGK

“Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo”

Những câu thơ trên gợi lên cho em những suy nghĩ gì về người lính và cuộc chiến đấu? Hãy phân tích vẻ đẹp và ý nghĩa của hình ảnh trong những câu thơ ấy.

Trả lời

Đây là những câu thơ đẹp nhất viết về người lính, là bức tranh đẹp nhất về tình đồng đội, đồng chí, vẽ nên hình tượng đẹp nhất về người chiến sĩ yêu nước. Ngoài người đồng đội, người chiến sĩ còn một người nữa là “đầu súng trăng treo”. Đó là một hình ảnh vừa thực lại vừa mộng, mang ý nghĩa biểu tượng thật phong phú.


Câu 5 – Trang 130 SGK

Theo em, vì sao tác giả lại đặt tên cho bài thơ về tình đồng đội của những người lính là Đồng chí?

Trả lời

Tác giả đặt tên cho bài thơ là Đồng chí vì từ này có nghĩa là “cùng chung chí hướng, cùng lí tưởng”. Đây là cách xưng hô thân ái nhất của những người trong một đoàn thể cách mạng nước ta.


Câu 6 – Trang 130 SGK

Qua bài thơ này, em có cảm nhận gì về hình ảnh anh bộ đội thời kháng chiến chống Pháp?

Trả lời

Hình ảnh anh bộ đội trong bài thơ này hiện lên vừa đơn sơ bình dị lại vừa hào hùng cao cả “căn nhà không mặc kệ gió lung lay”. Họ không phải người vô tình, họ biết nhắc đến giếng nước gốc đa, nhưng họ hi sinh tất cả để giành độc lập. Vì thế nên họ chấp nhận tất cả: “sốt run người vầng trăn ướt mồ hôi”.


Luyện tập

Câu 2 – Trang 131 SGK

Viết một đoạn văn trình bày cảm nhận của em về đoạn cuối bài thơ Đồng chí (“Đêm nay… trăng treo”)

Gợi ý

– Trong bức tranh ấy nổi bật lên ba hình ảnh gắn kết với nhau: người lính, khẩu súng, vầng trăng. Trong cảnh rừng hoang sương muối, những người lính đứng bên nhau chờ giặc tới. Sức mạnh của tình đồng đội giúp họ vượt qua mọi khó khăn, gian khổ. Bên cạnh họ còn có vầng trăng làm bạn.

– Hình ảnh đầu súng trăng treo còn mang ý nghĩa biểu tượng, gợi ra những liên tưởng phong phú, súng và trăng là gần và xa, thực tại và mơ mộng, chất chiến đấu và trữ tình, chiến sĩ và thi sĩ.


Ghi nhớ

– Tình đồng chí của những người lính dựa trên cơ sở cùng chung cảnh ngộ và lí tưởng chiến đấu được thể hiện thật tự nhiên, bình dị mà sâu sắc trong mọi hoàn cảnh, nó góp phần quan trọng tạo nên sức mạnh và vẻ đẹp tinh thần của người lính cách mạng.

– Bài thơ Đồng chí của Chính Hữu thể hiện hình tượng người lính cách mạng và sự gắn bó keo sơn của họ qua những chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ giản dị, chân thực, cô đọng, giàu sức biểu cảm.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

5

Bài soạn “Đồng chí” số 5

Câu 1. Bài thơ Đồng chí ra đời năm nào ? Em biết gì về hoàn cảnh sáng tác bài thơ ?

Trả lời:

Xem lại chú thích (★) trong SGK Ngữ văn 9, tập một, trang 129, để biết hoàn cảnh sáng tác bài Đồng chí.


Câu 2. Theo em, vì sao tác giả lại đặt tên Đồng chí cho bài thơ viết về tình đồng đội của những người lính ? Tên bài thơ gợi cho em suy nghĩ gì về tình cảm của những người lính cách mạng ?

Trả lời:

Xem lại chú thích (1) về từ đồng chí. Tình đồng đội của những người lính được tác giả gọi bằng tình đồng chí, điều đó đã nhấn mạnh cơ sở giai cấp, lí tưởng chiến đấu và tính chất cách mạng của mối quan hệ giữa những người lính trong kháng chiến chống Php. Tình đồng chí là cốt lõi, là bản chất sâu xa của sự gắn bó giữa những người lính cách mạng.


Câu 3. Trong bài Đồng chí có nhiều câu thơ đối ứng với nhau. Hãy chỉ ra những câu đối ứng ấy và nhận xét về ý nghĩa của biện pháp đó trong bài thơ.

Trả lời:

Các câu thơ đối ứng : 1 và 2, 13 và 14, 15 và 16. Ngoài ra còn nhiều câu thơ có những chi tiết, hình ảnh sóng đôi, như câu 5, 6, 11, 17,… Biện pháp nghệ thuật này đã làm nổi bật sự gần gũi, thống nhất của những người lính cách mạng, từ hoàn cảnh xuất thân đến sự chia sẻ những gian lao, thiếu thốn và cùng một lí tưởng chiến đấu. Đó chính là cơ sở và cũng là biểu hiện cụ thể của tình đồng chí giữa họ. Biện pháp nghệ thuật này đã góp phần quan trọng để xây dựng hình tượng người lính cách mạng trong bài thơ, với sự gắn bó keo sơn trong tình đồng chí, đồng đội. Tình cảm ấy vừa là vẻ đẹp tinh thần, vừa là cơ sở tạo nên sức mạnh chiến đấu của người lính.


Câu 4. Viết một đoạn trình bày cảm nhận của em về ba dòng thơ cuối bài Đồng chí.

Trả lời:

Có thể tham khảo những gợi ý sau :

– Trong bức tranh ấy nổi lên trên nền cảnh rừng đêm giá rét là ba hình ảnh gắn kết với nhau : người lính, khẩu súng, vầng trăng. Trong cảnh rừng hoang sương muối những người lính đứng bên nhau, chờ giặc. Sức mạnh của tình đồng đội đã giúp họ vượt lên tất cả những khắc nghiệt của thời tiết và mọi gian khổ, thiếu thốn. Người lính trong cảnh phục kích giặc giữa rừng khuya còn có một người bạn nữa, đó là vầng trăng. “Đầu súng trăng treo, ngoài hình ảnh, bốn chữ này còn có nhịp điệu như nhịp lắc của một cái gì lơ lửng, chông chênh trong sự bát ngát. Nó nói lên cái gì lơ lửng ở rất xa chứ không phải là buộc chặt, suốt đêm vầng trăng ở bầu trời cao xuống thấp dần và có lúc như treo lơ lửng trên đầu mũi súng. Những đêm phục kích chờ giặc, vầng trăng đối với chúng tôi như một người bạn”. (Theo Chính Hữu, Một vài kỉ niệm nhỏ về bài thơ “Đồng chí”)

– Hình ảnh “đầu súng trăng treo” còn mang ý nghĩa biểu tượng, gợi ra những liên tưởng phong phú, súng và trăng là gần và xa, thực tại và mơ mộng, chất chiến đấu và chất trữ tình, chiến sĩ và thi sĩ.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

6

Bài soạn “Đồng chí” số 6

I. Đôi nét về tác giả
– Chính Hữu (1926-2007): Tên thật là Trần Đình Đắc, bút danh Chính Hữu
– Quê quán: huyện Can Lộc, tình Hà Tĩnh
– Năm 1946, Chính Hữu gia nhập Trung đoàn thủ đô và hoạt động trong quân đội suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ.
⇒ Chính Hữu là nhà thơ quân đội trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp
– Sống và hoạt động trong thời điểm đất nước đang trải qua cuộc chiến đấu trường kì để bảo vệ chủ quyền, độc lập, Chính Hữu có ý thức hướng ngòi bút của mình vào hiện thực chiến tranh.
– Quá trình sáng tác:
+ Ông bắt đầu sự nghiệp sáng tác thơ năm 1947
+ Đề tài chủ yếu trong các sáng tác tác của Chính Hữu là đề tài chiến tranh và người lính
+ Tác phẩm chính làm nên tên tuồi của Chính Hữu là tập thơ Đầu súng trăng treo (1966). Ngoài ra các tác phẩm của ông còn có Thơ Chính Hữu (1997),…
– Phong cách sáng tác: Những sáng tác của ông không nhiều nhưng phần lớn là những bài thơ mang đậm dấu ấn cá nhân với cảm xúc dồn nén, vừa thiết tha, trầm hùng lại vừa sâu lắng, hàm súc, ngôn ngữ, hình ảnh chọn lọc, đặc sắc ⇒ Làm nên một nhà thơ với phong cách bình dị.

II. Đôi nét về tác phẩm Đồng chí
1. Hoàn cảnh sáng tác
Bài thơ được sáng tác vào mùa xuân năm 1948, thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp, sau khi tác giả cùng đồng đội tham gia chiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc (Thu – Đông năm 1947) đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của Pháp lên chiến khu Việt Bắc.
⇒ Được đánh giá là tiêu biểu cho thơ ca kháng chiến giai đoạn 1946 – 1954, bài thơ đã đi qua hành trình hơn nửa thế kỉ, làm sang trọng một hồn thơ chiến sĩ của Chính Hữu.

2. Bố cục (3 đoạn)
Đoạn 1 (7 câu thơ đầu): Cơ sở hình thành tình đồng chí, đồng đội của những người lính.
– Đoạn 2 (10 câu thơ tiếp theo): Những biểu hiện của tình đồng chí và sức mạnh của tình cảm ấy ở những người lính.
– Đoạn 3 (3 câu kết): Biểu tượng đẹp về tình đồng chí.


3. Giá trị nội dung
Bài thơ nói về tình đồng chí, đồng đội thắm thiết, sâu nặng của những người lính cách mạng dựa trên cơ sở cùng chung cảnh ngộ và lí tưởng chiến đấu. Tình đồng chí góp phần quan trọng tạo nên sức mạnh và phẩm chất của những người lính cách mạng. Qua đó hiện lên hình tượng chân thực, giản dị mà cao đẹp của anh bộ đội cụ Hồ thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

4. Giá trị nghệ thuật
Bài thơ thành công về nghệ thuật bởi thể thơ tự do linh hoạt, các chi tiết, hình ảnh được sử dụng mang tính tiêu biểu, chân thực, ngôn ngữ cô đọng, giản dị và giàu sức biểu cảm.


Câu 1.

a. Dòng thứ bảy của bài thơ có cấu tạo rất đặc biệt. Cả dòng thơ chỉ có một từ, hai tiếng và dấu chấm cảm: Đồng chí! Kiểu câu đặc biệt này tạo một nốt nhấn. Nó vang lên như một sự phát hiện, một lời khẳng định. Nó còn tựa như cái bắt tay thân thiết giữa những con người. Nó như cái bàn lề gắn kết hai đoạn: Đoạn trước là cơ sở, nguồn gốc của tình đồng chỉ, đoạn sau là những biểu hiện cụ thể, cảm động của tình đồng chí.

b. Bố cục.

Đoạn đầu là sự lý giải về cơ sở của tình đồng chí (7 câu).
Đoạn thứ hai là những biểu hiện của tình đồng chí và sức mạnh của nó (9 câu tiếp).
Đoạn cuối (3 dòng cuối) là hình ảnh biểu tượng về người lính.

Câu 2. Sáu câu thơ đầu bài nói về cơ sở hình thành tình đồng chí của những người lính cách mạng. Đó là tình cảm bắt nguồn sâu xa từ sự tương đồng về cảnh ngộ xuất thân nghèo khó:

“Quê hương anh nước mặn đồng chuaLàng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”

Đó chính là cơ sở cùng chung giai cấp xuất thân của những người lính cách mạng. Chính điều đó cùng với mục đích, lý tưởng chung đã khiến họ từ mọi phương trời xa lạ tập hợp lại trong hàng ngũ quân đội cách mạng và trở nên thân quen với nhau.

Tình đồng chí còn được nảy sinh từ sự cùng chung nhiệm vụ sát cánh bên nhau trong chiến đấu:

“Súng bên súng đầu sát bên đầu”

Tình đồng chí, đồng đội nảy nở và thành bền chặt trong sự chan hòa và chia sẻ mọi gian lao cũng như niềm vui, đó là mối tình tri kỉ của những người bạn chí cốt, mà tác giả đã biểu hiện bằng một hình ảnh cụ thể, giản dị mà hết sức gợi cảm:

“Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.”


Câu 3. Trong bài thơ có những chi tiết, hình ảnh vừa chân thực vừa có sức gợi cảm cao về tình đồng chí đồng đội gắn bó keo sơn của những người lính cách mạng:

– “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ”. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt của thời tiết, người lính chia sẽ hơi ấm cho nhau. Đắp “chung chăn” chỉ là mẹ và con, “chung chân” chỉ là vợ chồng, giờ đây “chng chăn” lại là mình và anh trong cái chăn ta ấm tình đồng chí, ta là đôi “Tri kỷ” gắn bó với nhau tâm đầu ý hợp.

– Mười câu tiếp theo là những biểu hiện cụ thể và cảm động của tình đồng chí.

Đó là sự cảm thông sâu xa những tâm tư nỗi lòng của nhau:

“Ruộng nương anh gửi bạn thân càyGian nhà không, mặc kể gió lung layGiếng nước gốc đa nhớ người ra lính.”

Đó là cùng nhau chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời người lính:

“Áo anh rách vaiQuần tôi có vài mảnh váMiệng cười buốt giáChân không giày.”

Nhất là cùng trải qua những “cơn sốt run người vừng trán ướt mồ hôi”.


Câu 4. Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh rất đặc sắc:

“Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới.

Đầu súng trăng treo.”

Đây là bức tranh đẹp về tình đồng chí, đồng đội của người lính, là biểu tượng đẹp về cuộc đời người chiến sĩ.

Trong bức tranh trên nói lên nền cảnh rừng đê giá rét, là ba hình ảnh gắn kết với nhau: người lính, khẩu súng, vầng trăng. Trong cảnh rừng hoang sương muối, những người lính phục kích, chờ giặc, đứng bên nhau. Sức mạnh của tình đồng đội đã giup họ vượt lên trên tất cả những khắc nghiệt của thời tiết và mọi gian khổ, thiếu thốn. Tình đồng chí đã sưởi ấm lòng họ giữa cảnh rừng hoang của mùa đông, sương muối giá rét.
Người lính trong cảnh phục kích giữa rừng khuya còn có một người bạn nữa, đó là vầng trăng. “Đầu súng trăng treo” là hình ảnh được nhận ra từ những đêm hành quân, phục kích của chính tác giả. Những hình ảnh ấy còn mang ý nghĩa biểu tượng, được gợi ra bởi những liên tưởng phong phú. Súng và trăng là gần và xa, thực tại và mơ mộng, chất chiến đấu và trữ tình, chiến sĩ và thi sĩ… Đó là các mặt bổ sung cho nhau, hài hòa với nhau của cuộc đời người lính cách mạng. Xa hơn, đó cũng có thể xem là biểu tượng cho thơ ca kháng chiến nền thơ kết hợp chất hiện thực và cảm hứng lãng mạn.
Về hình ảnh đầu súng trăng treo, Chính Hữu đã nói với những ấn tượng và suy nghĩ của chính tác giả: “Đầu súng, trăng treo ngoài hình ảnh, bốn chữ này còn có nhịp điệu như nhịp lắc của một cái gì lơ lửng, chông chênh, trong sự bát ngát”. Nó nói lên một cái gì lơ lửng ở xa chứ không phải là buộc chặt, suốt đêm vầng trăng từ bầu trời cao xuống thấp dần và có lúc treo lơ lửng trên đầu mũi súng. Những đêm phục kích chờ giặc, vầng trăng đối với chúng mình như một người bạn, rừng hoang sương muối là một khung cảnh thật.


Câu 5. Bài thơ được đặt tên là Đồng Chí. Đồng Chí là từ ghép Hán Việt nghĩa là cùng chung chí hướng, lý tưởng. Tình đồng chí là bản chất cách mạng của tình đồng đội và thể hiện sâu sắc tình đồng đội vì vậy tác giả đã đặt tên bài thơ là Đồng chí.

Câu 6. Bài thơ về tình đồng chí đồng đội làm hiện lên vẻ đẹp bình dị mà cao cả của người lính cách mạng, cụ thể ở đây là anh bộ đội hồi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Tình đồng chí, đồng đội đã giúp người lính đứng vững trên trận tuyến đánh quân thù trong tư thể chủ động “chờ” đón đánh địch. Tình yêu thương giữa những người đồng chí có sức mạnh vô cùng.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Top 6 Bài soạn “Đồng chí” của Chính Hữu lớp 9 hay nhất

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chuyển lên trên