Top 6 Bài soạn “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành lớp 12 hay nhất

Top 6 Bài soạn “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành lớp 12 hay nhất

Truyện ngắn “Rừng xà nu” là tác phẩm nổi tiếng nhất của nhà văn Nguyễn Trung Thành viết năm 1965 – những năm tháng kháng chiến chống Mỹ ác liệt. Thông qua câu chuyện về những con người ở một bản làng hẻo lánh, bên những cánh rừng xà nu bạt ngàn, xanh bất tận, tác giả đặt vấn đề có ý nghĩa lớn lao đối với dân tộc và thời đại: để cho sự sống của nhân dân và đất nước mãi mãi trường tồn không còn cách nào khác là phải cùng nhau đứng lên, cầm vũ khí chống lại kẻ thù tàn ác. Mời các bạn đọc tham khảo một số bài soạn “Rừng xà nu” hay nhất mà Topz đã tổng hợp trong bài viết sau.

1

Bài soạn “Rừng xà nu” số 1

I. Đôi nét về tác giả Nguyễn Trung Thành
– Nguyễn Trung Thành bút danh khác là Nguyên Ngọc, tên khai sinh là Nguyễn Văn Báu, sinh năm 1932
– Quê quán: huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
– Năm 1950, ông vào bộ đội, sau đó làm phóng viên báo Quân đội nhân dân Liên khu V. Năm 1962, ông tình nguyện trở về chiến trường miền Nam, hoạt động ở Quảng Nam và Tây Nguyên
– Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, ông tiếp tục cống hiến cho phong trào văn nghệ của nước nhà. Ông từng là Ủy viên Ban Chấp hành hội nhà văn Việt Nam, Tổng biên tập báo Văn nghệ
– Tác phẩm chính: Đất nước đứng lên (tác phẩm đạt giải Nhất – Giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1954-1955), Rẻo cao (1961), Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc (tập truyện và kí, 1969), Đất Quảng (tiểu thuyết, 1971-1974)
– Đặc điểm sáng tác: những sáng tác của ông mang những đặc sắc của mảnh đất Tây Nguyên và đậm chất sử thi.

II. Đôi nét về tác phẩm Rừng Xà Nu
1. Hoàn cảnh ra đời
Truyện ngắn Rừng xà nu được viết năm 1965 (ra mắt lần đầu tiên trê tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng Trung Trung Bộ số 2/1965, sau đó in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc), là tác phẩm nổi tiếng nhất trong số các sáng tác của Nguyên Ngọc viết trong những năm tháng kháng chiến chống đế quốc Mĩ.

2. Tóm tắt văn bản
Sau ba năm đi “lực lượng”, Tnú về thăm làng. Bé Heng gặp anh ở con nước lớn đẫn anh về. Con đường cũ, hai cái dốc, rừng lách chằng chịt hố chông, hầm chông, giàn thò sắc lạnh. Mặt trời chưa tắt thì anh về đến làng. Cụ Mết già làng và bà con dân làng reo lên mừng rỡ. Cụ Mết đưa anh về nhà ăn cơm. Từ nhà ưng vang lên một hồi, ba tiếng mõ dài, cả lũ làng cầm đuốc kéo tới nhà cụ Mết gặp Tnú. Có ông bà già. Nhiều trai tráng và lũ con gái. Đông nhất là lũ trẻ con. Có cả cô Dít, em gái Mai, nay là bí thư chi bộ kiêm chính trị viên xã đội. Ai cũng muốn ngồi gần anh Tnú. Dít thay mặt lũ làng xem giấy có chữ kí chỉ huy cho phép Tnú về thăm làng một đêm. Quanh bếp lửa rộn lên: ‘Tốt lắm rồi!” “Một đêm thôi, mai lại đi rồi, ít quá, tiếc quá”. Rồi cụ Mết kể lại cuộc đời Tnú cho lũ làng nghe. Tiếng nói rất trầm. “Anh Tnu đó, nó đi Giải phóng quân đánh giặc… Đời nó khổ, nhưng bụng nó sạch như nước suối làng ta”. Anh Xút bị giặc treo cổ, bà Nhan bị giặc chặt đầu, nó và em Mai đi vào rừng nuôi anh Quyết cán bộ. Anh dạy nó học chữ. Nó học chữ thì hay quên nhưng đi rừng làm liên lạc thì đầu nó sáng lạ lùng. Nó vượt thác, xé rừng mà, lọt tất cả vòng vây của giặc. Một lần Tnú vượt thác Đắc Nông thì bị giặc bắt, bị tra tấn, bị giặc đày đi Kông Tum. Ba năm sau, Tnú vượt ngục trốn về, lung đầy thương tích. Tnú đọc thư tuyệt mệnh của anh Quyết gửi cho dân làng Xô Man trước khi anh tử thương. Tnú đi bộ lên núi Ngọc Linh đem vẻ một gùi đá mài. Đêm đêm làng Xô Man thức mài vũ khí. Thằng Dục chỉ huy đồn Đắc Hà đưa lũ ác ổn về vây ráp làng. Tiếng kêu khóc vang dậy. Cụ Mết và trai tráng lánh vào rừng, bí mật bám theo giặc. Bọn giặc đã giết chết mẹ con Mai. Tay không, nhảy ra cứu vợ con, Tnú bị giặc bắt. Chúng lấy nhựa xà nu đốt cháy mười ngón tay anh. Cụ Mết và 10 thanh niên từ rừng xông ra, dùng mác, và rựa chcm chết tất cả 10 tên ác ôn. Thằng Dục ác ôn và xác lũ lính ngổn ngang quanh đống lửa xà nu trên nhà ưng. Từ đó, làng Xô Man ào ào rung động. Và lửa cháy khắp rừng. Sau đó, Tnú ra đi tìm cách mạng…” Cụ Mết ngừng kể, rồi hỏi Tnú đã giết được mấy thằng Diệm, mấy thằng Mĩ rồi? Anh kể chuyện đánh đồn, xông xuống hầm ngầm dùng tay bóp chết thằng chỉ huy… thằng Dục, “đúng chớ… chúng nó đứa nào cũng là thằng Dục!”. Mưa rơi nặng hạt. Không ai nhận thấy đêm đã khuya. Sáng hôm sau cụ Mết và Dít tiễn Tnú lên đường. Ba người đứng nhìn những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời…

3. Bố cục (3 phần)
– Phần 1 (từ đầu đến “những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời”): Hình ảnh rừng xà nu
– Phần 2 (tiếp đó đến “giội lên khắp người như ngày trước”): Câu chuyện Tnú sau ba năm đi lực lượng về thăm làng
– Phần 3 (còn lại): Câu chuyện về cuộc đời bi tráng của Tnú và câu chuyện chiến đấu của dân làng Xô Man được cụ Mết kể lại

4. Giá trị nội dung
Thông qua câu chuyện về những con người ở một bản làng hẻo lánh, bên những cánh rừng xà nu bạt ngàn, xanh bất tận, tác giả đặt vấn đề có ý nghĩa lớn lao đối với dân tộc và thời đại: Để cho sự sống của nhân dân và đất nước mãi mãi trường tồn, không có cách nào khác hơn là phải cùng nhau đứng lên, cầm vũ khí chống lại kẻ thù tàn ác.

5. Giá trị nghệ thuật
– Đặc sắc, đậm đà chất sử thi hùng tráng. Chất sử thi được thể hiện ở đề tài, chủ đề, cốt truyện, nhân vật, hình ảnh thiên nhiên, các chi tiết nghệ thuật, giọng điệu:
+ Đề tài có ý nghĩa lịch sử: sự vùng dậy của dân làng Xô Man chống lại Mĩ Diệm
+ Bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, hoành tráng. Rừng xà nu làm nền cho bức tranh về cuộc đấu tranh chống giặc (Cả rừng … ào ào rung động, lửa cháy khắp rừng).
+ Các nhân vật tiêu biểu được miêu tả trong bối cảnh trang nghiêm, hùng vĩ, vừa mang phong cách Tây Nguyên vừa mang phẩm chất của anh hùng thời đại.
– Kết cấu vòng tròn: mở đầu, kết thúc là hình ảnh rừng xà nu cùng với sự trở về của Tnú sau ba năm xa cách
– Cách thức trần thuật: kể theo hồi tưởng qua lời kể của cụ Mết (già làng), kể bên bếp lửa gợi nhớ lối kể ” khan”- sử thi của các dân tộc Tây Nguyên, những bài “khan” được kể như những bài hát dài hát suốt đêm.


II. Trả lời câu hỏi

Câu 1 (trang 48 sgk ngữ văn 12 tập 2)

a, Ý nghĩa truyện:

+ Nhan đề: rừng xà nu là biểu tượng về tinh thần và sức sống bất diệt của người dân Tây Nguyên. Đó cũng là sáng tạo nghệ thuật, thể hiện tình cảm của tác giả với thế hệ anh hùng chống giặc.

b, Cảnh xà nu dưới tầm đại bác: nơi hứng chịu mọi sự tàn phá của đại bác Mĩ, đầy đau thương, chết chóc nhưng vẫn vươn lên với sức ống mãnh liệt, biểu trưng cho cuộc sống, con người, phẩm chất người làng Xô Man

c, Hình ảnh ngọn đồi xà nu trải dài hút tầm mắt, chạy tít tắp đến tận chân trời

Thể hiện sự tiếp nối, trường tồn, mạnh mẽ không gì hủy hoại được → tượng trưng cho sức sống của đất nước và con người

Câu 2 (trang 49 sgk ngữ văn 12 tập 2)

a, Người anh hùng được cụ Mết kể: Tnú. Với phẩm chất, tính cách:

+ Gan dạ, dũng cảm, trung thực (còn nhỏ cùng Mai vào rừng tiếp tế cho Quyết)

+ Lòng trung thành với cách mạng được bộc lộ qua thử thách (giặc bắt, tra tấn, lưng ngang dọc vết bị chém nhưng vẫn gan góc

– Số phận đau thương: không cứu được vợ con, bản thân bị bắt, bị tra tấn (bị đốt mười ngón tay)

– Kiên cường đứng dậy cầm vũ khí tiêu diệt kẻ thù

– Tnú may mắn hơn thế hệ đàn anh mình như anh hùng Núp và A Phủ:

+ Không sống kiếp tù đày cam chịu

+ Được giác ngộ lí tưởng cách mạng từ khi từ nhỏ

b, Câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú: “Tnú không cứu được vợ con”- cụ Mết nhắc tới bốn lần nhấn mạnh

+ Khi chưa cầm vũ khí chiến đấu, thì ngay cả những người thân Tnú không giữ được

+ Cụ Mết khẳng định, đấu tranh cần có vũ khí, đó là con đường duy nhất bảo vệ được những điều thân yêu, thiêng liêng

– Chân lí cách mạng đúc rút từ chính thực tế xương máu của dân tộc, những con người thương yêu nên chân lí phải ghi nhớ, truyền dạy cho thế hệ sau

c, Câu chuyện Tnú với dân làng Xô man nói lên chân lí lớn của thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, phải chống lại mọi kể thù xâm lược, kể cả phải cầm vũ khí, hi sinh tính mạng

d, Vai trò của nhân vật

– Cụ Mết, Mai, Dít, bé Heng sự tiếp nối các thế hệ làm nổi bật tinh thần bất khuất của làng Xô Man nói riêng, của Tây Nguyên nói chung

– Mai, Dít là thế hệ hiện tại, trong Dít có Mai của thời trước, vẻ đẹp sự kiên định, vững vàng trong bão táp chiến tranh

– Bé Heng là thế hệ tiếp nối, kế tục cha anh, để đưa cuộc chiến thắng lợi cuối cùng

– Cuộc chiến khốc liệt cần đòi hỏi mỗi người Việt có sức sống mạnh mẽ, trỗi dậy

Câu 3 (trang 49 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Hình ảnh rừng xà nu, hình tượng nhân vật Tnú gắn kết khăng khít với nhau. Nhà văn muốn dùng rừng xà nu biểu tượng cho tinh thần gan góc, dũng cảm, kiên trung… của nhân vật Tnú và dân làng Xô Man

Câu 4 (trang 49 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Nghệ thuật của truyện:

– Đặc sắc, đậm đà chất sử thi hùng tráng. Chất sử thi toát lên qua đề tài, chủ đề, cốt truyện, nhân vật, hình ảnh thiên nhiên, giọng điệu:

+ Đề tài gắn với lịch sử: cuộc đấu tranh của dân làng Xô Man chống Mỹ Diệm

+ Bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, hoành tráng, rừng xà nu làm nền cho bức tranh về cuộc đấu tranh chống giặc

+ Các nhân vật tiêu biểu được miêu tả trong bối cảnh trang nghiêm, hùng vĩ, vừa mang phong cách Tây Nguyên với phẩm chất của anh hùng thời đại

– Kết cấu vòng tròn: Mở đầu, kết thúc hình ảnh của rừng xà nu, cùng với sự trở về của Tnú sau ba năm xa cách

– Cách trần thuật: kể câu chuyện theo lời trang trọng của cụ Mết, bên bếp lửa, như truyền cho con cháu biết những trang sử bi thương và người anh hùng của cộng đồng

– Ngôn ngữ, giọng điệu: đậm chất sử thi, hùng tráng

Luyện tập

Bài 1 (trang 49 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Tìm đọc trọn vẹn tác phẩm

Bài 2 (trang 49 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Đôi bàn tay của Tnú mang nhiều ý nghĩa

– Đôi bàn tay kiên trung với cách mạng

– Đôi bàn tay chịu nhiều đau thương, ghi lại chứng tích, tội ác mà kẻ thù gây ra

– Đôi bàn tay của nghĩa tình, của trụ cột gia đình

– Chính đôi bàn tay đầy thương tích đã đứng lên cầm vũ khí chiến đấu chống kẻ thù, đôi bàn tay ấy thể hiện dũng khí, tinh thần kiên cường của cách mạng

→ Đôi bàn tay của Tnú tượng trưng cho sức mạnh của cộng đồng, sức mạnh người anh hùng Tây Nguyên, đó là đôi bàn tay chứa ý chí, sức mạnh vượt qua kẻ thù

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)


2

Bài soạn “Rừng xà nu” số 2

Câu 1 (trang 38 SGK Ngữ văn 12 tập 2)

* Ý nghĩa truyện qua:

a. Nhan đề Rừng xà nu :

+ Ý nghĩa tả thực: Nhà văn nói về cây xà nu – một loài cây sống thành rừng ở Tây Nguyên. Loài cây này có sức sống mãnh liệt, không chịu khuất phục trước sự thay đổi của thời tiết.

+ Ý nghĩa biểu tượng: Qua sức sống mãnh liệt của cây xà nu, rừng xà nu, nhà văn nói đến nỗi đau và sức sống, phẩm chất kiên cường bất khuất của nhân dân Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

b. Hình tượng rừng xà nu dưới tầm đại bác.

– Mở đầu tác phẩm, nhà văn tập trung giới thiệu về rừng xà nu, một rừng xà nu cụ thể được xác định đó: “Nằm trong tầm đại bác của đồn giặc”, “hầu hết đại bác đều rơi vào đồi xà nu cạnh con nước lớn”.

– Nguyễn Trung Thành đã phát hiện ra: “cả rừng xà nu hàng vạn cây không cây nào là không bị thương”. Tác giả đã chứng kiến nỗi đau của xà nu.

– Sức sống mãnh liệt của cây xà nu.

– Xà nu không những tự biết bảo vệ mình mà còn bảo vệ sự sống, bảo vệ làng Xô man.

c. Hình ảnh đồi xà nu, rừng xà nu “trông xa xa đến ngút tầm mắt”, “nối tiếp tới chân trời”, lặp đi lặp lại trong truyện gợi ra cảnh rừng xà nu hùng tráng, kiêu dũng và bất diệt như người Tây Nguyên nói riêng và con người Việt Nam nói chung trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước vĩ đại.

– Ngợi ca sức sống mãnh liệt, không gì có thể hủy diệt của cây xà nu Tây Nguyên

=> Tin tưởng, khẳng định sự trường tồn của nhân dân, của đất nước.


Câu 2 (trang 48 SGK Ngữ văn 12 tập 2)

a.

* Những phẩm chất tốt đẹp của Tnú:

– Lúc còn bé Tnú đã là con người gan góc, dũng cảm, mưu trí :

– Khi trưởng thành, Tnú có một trái tim yêu thương và sục sôi căm thù giặc. Anh sống rất nghĩa tình và luôn mang trong tim ba mối thù: của bản thân, của gia đình, của buôn làng.

– Người chiến sĩ, người cán bộ có tinh thần kỷ luật cao.

* Điểm mới của nhân vật Tnú so với nhân vật A Phủ

– Tnú giác ngộ cách mạng từ nhỏ, con đường tranh đấu của Tnú là con đường tự giác và có ý thức rõ ràng trong khi con đường của A Phủ là con đường tự phát.

– Trong Tnú chứa đựng chân lí đấu tranh của thời đại: dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng.

b. Câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú: “Tnú không cứu được vợ con”. Cụ Mết nhắc tới bốn lần để nhấn mạnh: khi chưa cầm vũ khí, Tnú chỉ có hai bàn tay không thì ngay cả những người thương yêu nhất Tnú cũng không cứu được. Câu nói của cụ Mết muốn khẳng định: chỉ có cầm vũ khí đứng lên mới là con đường sống duy nhất, mới bảo vệ được những gì thân yêu, thiêng liêng nhất.

c. Câu chuyện của Tnú và dân làng Xô Man phản ánh chân lí thời đại: Phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng. Cụ Mết muốn chân lí đó phải được truyền cho con cháu bởi chân lí ấy đã được đúc kết từ biết bao xương máu, mất mát của dân làng và vì đó là con đường duy nhất để bảo vệ buôn làng, quê hương.d. Vai trò của các nhân vật:

– Nhân vật cụ Mết

+ Cụ Mết tiêu biểu cho truyền thống của làng Xô-man. Cụ là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, là pho sử sống của làng.

+ Cụ Mết là linh hồn của làng Xô-man. Chính cụ đã lãnh đạo dân làng đồng khởi.

– Nhân vật Mai, Dít: tiêu biểu cho những cô gái Tây Nguyên thời chống Mĩ, trưởng thành từ những đau thương và quật khởi của dân làng.

– Nhân vật bé Heng: Bé Heng là thế hệ tiếp nối, kế tục cha anh để đưa cuộc chiến tới thắng lợi cuối cùng.


Câu 3 (trang 49 SGK Ngữ văn 12 tập 2)

* Hình ảnh rừng xà nu và nhân vật Tnú có mối quan hệ gắn bó khăng khít:

– Xà nu gắn bó với Tnú từ thời thơ ấu (khói xà nu hun tấm bảng đen để học chữ).

– Xà nu ở bên Tnú trong những biến cố đau đớn, những bài học xương máu (nhựa xà nu cháy trên mười đầu ngón tay Tnú, chứng kiến Tnú không cứu được vợ con).

– Xà nu cùng dân làng chào đón Tnú trở về sau mấy năm đi lực lượng (đuốc xà nu soi sáng đêm anh đoàn tụ với buôn làng ở nhà cụ Mết).- Xà nu và Tnú luôn được miêu tả ứng chiếu làm nổi bật lẫn nhau, Tnú như một cây xà nu đã trưởng thành mạnh mẽ và đầy sức sống. Phẩm chất kiên cường, sức sống bất diệt của xà nu cũng là phẩm chất bất khuất, anh hùng của Tnú.=> Xà nu biểu tượng cho làng Xô Man, Tnú biểu tượng cho người anh hùng trong kháng chiến


Câu 4 (trang 49 SGK Ngữ văn 12 tập 2)

* Nghệ thuật

– Đậm đà chất sử thi hùng tráng.

– Bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, hoành tráng.

– Các nhân vật vừa mang đậm dấu ấn con người Tây Nguyên vừa mang phẩm chất của anh hùng thời đại

– Kết cấu vòng tròn.

– Cách trần thuật.

– Giọng kể trang trọng.


Luyện tập

Câu 2 (trang 49 SGK Ngữ văn 12 tập 2)

* Đôi bàn tay Tnú có nhiều ý nghĩa.

– Đó là đôi bàn tay của người trung thành, thủy chung với cách mạng.

– Đôi bàn tay của nghĩa tình.

– Đôi bàn tay là hiện thân của mất mát đau thương, ghi lại chứng tích tội ác mà kẻ thù đã gây ra.

– Cuối cùng đó là bàn tay cầm vũ khí chiến thắng kẻ thù, đôi bàn tay của ý chí quật cường, tinh thần dũng cảm, bất khuất của người cộng sản.

=> Bàn tay Tnú biểu tượng cho sức mạnh của khối đoàn kết cộng đồng, sự gắn bó mạch sống của mảnh đất, rừng cây và sức sống con người. Đó là đôi bàn tay huyền thoại, vô địch trước sức mạnh của mọi kẻ thù.


Tóm tắt

Sau ba năm tham gia lực lượng cách mạng, Tnú được về thăm làng. Trong đêm ấy, cụ Mết kể lại cho dân làng nghe về câu chuyện của Tnú. Tnú mồ côi từ nhỏ, được dân làng nuôi lớn và sớm tiếp nối tinh thần cách mạng. Tnú tham gia nuôi giấu chiến sĩ cách mạng và làm liên lạc. Tnú vốn là một cậu bé thông minh, can đảm và gan dạ: “chọn nơi rừng khó đi, nơi sông khó qua” để tránh kẻ thù. Lúc bị bắt dám thách thức quân giặc “nuốt vội lá thư và chỉ tay vào bụng mình”. Tnú bị bắt, bị tra tấn dã man nhưng nhất định không khai. Sau khi ra tù, Tnú về làng cưới Mai và cùng dân làng chuẩn bị chiến đấu. Nghe tin đó, thằng Dục – tay sai của chính quyền Mỹ – Diệm đưa lính đến đàn áp. Không bắt được Tnú chúng đem vợ con anh ra đánh đập đến hết. Tnú đau xót xông ra nhưng không cứu được vợ con mà còn bị chúng thiêu đốt mười đầu ngón tay bằng nhựa cây xà nu. Trong khi đó cụ Mết cùng dân làng mang vũ khí cất giấu trong rừng trở về và chiến đấu thắng lợi. Tnú gia nhập giải phóng quân và chiến đấu dũng cảm nên được cấp phép về thăm làng. Cụ Mết tự hào kể về anh cũng như nhắc nhở bài học xương máu: ”Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Cuối truyện là hình ảnh cụ Mết và Dít tiễn Tnú về đơn vị, xa xa là những rừng xà nu, đồi xà nu bạt ngàn, chạy tít tắp đến chân trời.


Bố cục:

Bố cục (2 phần)

– Phần 1 (phần chữ nhỏ): Tnú sau ba năm theo cách mạng giờ về thăm làng.

– Phần 2 (còn lại): cụ Mết kể câu chuyện về cuộc đời của Tnú và người dân làng Xô Man.

Nội dung chính

Rừng xà nu là một thiên truyện mang ý nghĩa và vẻ đẹp của một khúc sử thi trong văn xuôi trong văn xuôi hiện đại. Tác phẩm tái hiện vẻ đẹp tráng lệ, hào hùng của núi rừng, của con người và của truyền thống văn hóa Tây Nguyên.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

3

Bài soạn “Rừng xà nu” số 3

Năm 1965, cuộc chiến tranh cục bộ bắt đầu ở miền Nam nước ta. Mĩ đưa quân ồ ạt vào tham chiến. Chính trong thời điểm sôi bỏng này, Rừng xà nu của Nguyền Trung Thành đã ra đời, tái hiện lại không khí của một giai đoạn lịch sử quyết liệt trong phong trào cách mạng giải phóng miền Nam từ 1955 đến 1959. Truyện thể hiện quá trình đứng lên cầm lấy súng của những người dân đã dằn nén đau thương, uất hận và không một bạo lực cường quyền nào ngăn chặn, tiêu diệt được sự vùng lên của họ. Nói rõ hơn, Rừng xà nu kể về cuộc “đồng khởi” của dân làng Xô Man ở Tây Nguyên. Cụ Mết già làng, thủ lĩnh, đã lãnh đạo dân làng mài giáo, mác, vụ rựa… đứng lên đánh lũ ác ôn tay sai dế quốc Mĩ, giải phóng buôn làng và rừng núi thiêng liêng. Đây là hình ảnh có ý nghĩa biểu tượng cho cuộc đồng khởi của nhân dân miền Nam lúc bấy giờ, thể hiện một chân lí của cách mạng dược phát ngôn qua lời cụ Mết: “Nhớ lấy…, ghi lấy… sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, minh phải cầm giáo”.

Truyện Rừng xà nu có thế tóm tắt như sau:

Sau ba năm gia nhập lực lượng quân giải phóng, Tnú trở về thăm làng. Cả làng Xô Man tập hợp lại đón mừng anh. Cụ Mết đêm đó ôn lại những kỉ niệm đau thương hùng tráng của làng trong đó Tnú là nhân vật trung tâm.

Tnú và Mai tham gia cách mạng từ nhỏ. Sau đó Tnú bị giặc bắt đi tù. Lúc trở về, hai người thành vợ thành chồng và sinh được một con gái. Một lần, giặc càn lên làng lùng bắt Tnú tra tấn dã man. Chúng tẩm dầu xà nu và đốt mười ngón tay của anh. Mười ngón tay đã trở thành mười ngọn đuốc. Trước cảnh tượng ấy, cụ Mết lãnh đạo dân làng đồng khởi giết hết bọn giặc cứu Tnú. Rồi từ đó, Tnú gia nhập lực lượng giải phóng. Anh luôn ghi khắc mối thù đối với quân giặc và chiến đấu Tất dũng cảm.

Lần này, anh về phép, mừng thắng lợi làng Xô Man đã khác hẳn. Em gái của Mai đã trở thành bí thư chi bộ, chính trị viên xã đội.

Thông qua câu chuyên về cuộc đời Tnú, truyện ngắn Rừng xà nu ca ngợi sức sống mãnh liệt, tinh thần quật khởi, chí khí cách mạng kiên cường của dân làng Xô Man nói riêng và các dân tộc Tây Nguyên nói chung trong cuộc đấu tranh vũ trang chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ nền độc lập tự do của đất nước.

1. Hình tượng cây xà nu

Hình tượng nối bật và xuyên suốt trong truyện ngắn này là hình tượng cây xà nu. Mở đầu và kết thúc truyện đều là cảnh rừng xà nu “đến hút tầm mắt củng không thấy gì khác ngoài những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời”. Mở đầu là câu ấy, kết thúc cũng thế, chỉ đổi chữ “đồi” thành chữ “rừng”. Đây là một sự lặp lại có dụng ý, như một điệp khúc láy lại nhằm nhấn mạnh, gây ấn tượng đậm nét trong tâm hồn người đọc.

Cây xà nu thuộc họ thông, có nhựa thơm, mọc nhiều ở vùng bắc Tây Nguyên. Cây này xuất hiện trong tác phẩm trước tiên với ý nghĩa tả thực, thê hiện cái tươi đẹp, hùng vĩ của thiên nhiên Tây Nguyên. Nhưng ý nghĩa ấn dụ tượng trưng của nó mới là điều đáng chú ý hơn cả. Rất nhiều lần nhà văn nhấc tới hai chữ xà nu: rừng xà nu, đồi xà nu, nhựa xà nu, khói xà nu… Đúng là xà nu đã là hình ảnh tiêu biểu, đại diện cho làng Xô Man nói riêng và cả Tây Nguyên nói chung.

Mở đầu tác phẩm là nhưng tai họa mà cả những cây xà nu cố thụ và những cây con phải gánh chịu dưới làn mưa đại bác của kẻ thù: “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương”; “nhựa ứa ra, tràn trề… rồi dần dần bầm lại, đen và dặc quyện thành từng cục máu lớn”. Thế nhưng “đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng”. Để rồi: “Cạnh một cây xà nu mới ngã gục dã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn hình nhọn mũi tên lao thẳng lẽn bầu trời”, “có những cây mới nhú khỏi mặt đắt, nhọn hoắt như những mũi lẽ”. Đặc tả bằng lối tạo hình và thủ pháp nhân hóa nêu bật sức sống của cây xà nu; chủ ý của nhà văn là nêu bật sức sống của người dân Xô Man và nhân dân Tây Nguyên bất khuất. Cũng như cây xà nu, người dân Xô Man, hết lớp này đến lớp khác, nối bước nhau cầm lấy vũ khí đánh giặc. Anh Quyết hi sinh thì có Tnú, Mai ngã xuống đã có Dít bước lên thay chị. Bên cạnh cụ Mết, già làng, sừng sững như một cây xà nu cồ thụ là bé Heng, một thế hệ cây xà nu non trẻ,, sân sàng thừa kế lớp cha anh.

Ham ánh nắng và khí trời, cây xà nu vươn lên rất nhanh để tới ánh sáng cũng chẳng khác chi Tnú, Mai và dân làng Xô Man luôn phấn đâu, muốn hướng tới cuộc sống tự do. Nhà văn Nguyễn Trung Thành kể lại về việc viết truyện Rừng xà nu và nói về loại cây này như sau:

“Hồi tháng 5 năm 1962, hành quân từ miền Bắc vào, tôi cùng đi với Nguyễn Thi, đến điểm chia tay, mỗi người về chiến trường của mình là một khu rừng bát ngát phía tây Thừa Thiên giáp Lào. Đó là một khu rừng xanh tít tắp tận chân trời. Tôi yêu cây rừng xà nu từ ngày đó. Ấy là một cây hùng vĩ và cao thượng, man dại và trong sạch, thân cây cao vút, vạn vỡ ứa nhựa, tán lá vừa thanh nhã vừa rắn rỏi”.

(NGUYÊN NGỌC – về truyện ngắn “Rừng xà nu”)


2. Nhân vật trong Rừng xà nu

Trên cái nền hùng vĩ của rừng xà nu nổi lên là các nhân vật Tnú, Dít, cụ Mết và bé Heng. Mỗi hình tượng nhân vật đều có vẻ đọp riêng và đều mang ý nghĩa tư tưởng sâu sắc. Trước hết là Tnú, nhân vật chính của truyện. Anh được tác giả khắc họa với những nét độc đáo, đậm chất sử thi; cụ Mốt, già làng, rất tự hào mỗi lúc nói về anh. – “Nó là người Strá mình. Cha mẹ nó chết sớm, làng Xô Man này nuôi nó. Đời nó khổ, nhưng bụng nó sạch như nước suối làng ta”.

Từ lúc còn nhỏ, Tnú đã sớm tỏ ra gan góc, táo bạo, đầy quả cam. Anh và Mai đã vào rừng bảo vệ tiếp tế cho cán bộ hoạt động bí mật, mặc cho địch khủng bố dã man. Khi học chữ thua bạn, anh tự phạt mình bằng cách “cần một hòn đá, tự đập vào đầu, máu chảy ròng ròng”. Khi bị địch tra tấn hỏi cộng sản ớ đâu, Tnú đặt tay lên bụng mình nói: “ở đây này” và thế là lưng anh lại hằn thêm những vết chém của kẻ thù. Với phẩm chất gan dạ, anh hùng Tnú rất xứng đáng với tình yêu Mai, một cô gái Strá xinh đẹp dịu dàng. Nhưng đáng buồn thay, anh dành bất lực trước cái chết của vợ con. Nhìn thấy tận mắt cảnh địch tra tân dã man mẹ con Mai, lòng anh sôi sục căm thù: “Anh đã bứt dứt hàng chục trái vả mủ không hay. Anh chồm dậy (…) ở chỗ hai con mắt anh bây giờ là hai cục lửa lớn”. Cứu vợ con không được, Tnú bị giặc bắt trói bằng dây rừng. Chúng đốt mười ngón tay anh bằng nhựa xà nu thành mười ngọn đuốc. Tnú đau đớn quằn quại: “Anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng”’ nhưng anh vẫn lầm liệt khí phách: “Người cộng sản không thèm kêu van”. Tnú nhất định không thèm kêu van.

Chính đôi bàn tay bị đốt của anh dã khiến dân làng Xô Man đồng khởi giết giặc, cứu sống anh. Từ dó, với hai bàn tay mỗi ngón chỉ còn hai đốt ấy, Tnú đã cầm giáo, cầm súng. Anh lên đường gia nhập “lực lượng” và kiên cường chiến đấu. Rồi cùng chính đôi bàn tay ấy đã bóp cổ giết chết tên chỉ huy đồn địch trong hầm ngầm cố thủ của nó Tnú cũng lại là người có lòng tha thiết yêu bản làng. Khi xa nhà, xa quê hương, anh nhớ rõ từng hàng cây, từng con đường, từng dòng suối. Và anh nhớ nhất là tiếng chày cửa bản làng. Bởi vậy, khi trở lại thăm nhà, Tnú bồi hồi xúc động, ngực anh đập liên hồi.

Tóm lại, những nét tính cách của Tnú cũng tiêu biểu cho phẩm cách cao đẹp của cộng đồng người Strá ở Tây Nguyên: cũng gan góc, dũng cảm, cũng rất mực trung thành với cách mạng, tha thiết yêu bản làng nhất là cũng biết vượt lên mọi bi kịch cá nhân đê biến yêu thương, căm thù thành hành động kiên cường chiến đấu.

Tiếp theo là Dít. Tuy xuất hiện không nhiều trong tác phẩm nhưng cô gái này lại là hiện thân và là sự tiếp nối của Mai.

Ngay từ nhỏ, Dít đã nhanh nhẹn và gan góc. Cô chẳng chút khiếp sợ trước lời đe dọa của thằng Dục: “Đứa nào ra khỏi làng bắt được bắn chết ngay tại chỗ”. Bởi vậy, cứ sẩm tối là Dít lại bò theo mang nước mang gạo vào rừng tiếp tế cho cụ Mết, Tnú và các anh. Lúc bị bắt cô gái vẫn bình tĩnh, súng đạn địch không uy hiếp được tinh thần cô.

Khi trưởng thành, Dít thành cán bộ, bí thư chi bộ kiêm chính trị viên xã đội. Cô nghiêm khắc và nguyên tắc. Mặc dù rất quý mến. Tnú, anh rể mình, nhưng Dít vẫn nghiêm trang trong thủ tục hỏi giây tờ người lính từ mặt trận về thăm làng: “Không có giấy trốn về thi không dược, úy ban phải bắt thôi”. Nhưng phía sau thái độ lạnh lùng, ngôn từ có vẻ gay gắt là những tình cảm sâu sắc và kín đáo trong cái nhìn rất sâu đôi với Tnú bằng đôi mắt mở to, bình thản, trong suốt.

Tóm lại, Dít tiêu biểu cho những thanh niên Tây Nguyên đã được rèn luyện và trưởng thành qua thực tế ác liệt của cuộc chiến đấu chống kẻ thù để bảo vệ bản làng yêu dấu. Kế tiếp là cụ Mết. Nếu làng Xô Man như một cánh rừng xà nu bất khuất thì cụ già làng này chính là một xà nu cổ thụ: “Ông ở trần, ngực căng như một cây xà nu lớn”. Không chỉ là một thủ lĩnh quân sự, cụ Mết còn là linh hồn của cuộc chiến đấu và chiến thắng. Hình ảnh cụ gắn liền.với lời khẳng định một chân lí cách mạng để đi tới tự do: “Chúng nó dã cầm súng, minh phải cầm giáo”. Vị trí của con người này thế hiện rất rõ trong lời hịch truyền ở đoạn cuối truyện:

“Thế là bắt dầu rồi, Đốt lửa lên! Tất cả người già, người trẻ, người đàn ông, người đàn bà, mỗi người phải tỉm lấy một cây giáo, một cây mác, một cây dụ, một cây rựa. Ai không có thi vót chông, năm trăm cây chông. Đốt lửa lên!”. Cụ Mết đúng là hình ảnh tượng trưng cho lịch sử truyền thống hiên ngang bất khuất của nhân dân Xô Man. Sau cùng là bé Heng, hiện thân của thế hệ tương lai của cách mạng. Bé xuất hiện nhiều ở phần đầu truyện, đóng vai người hướng dẫn Tnú trở về. Tiếp nối truyền thông chiến đấu của cha anh, bé Heng giống như một cây xà nu mới lớn lên: “ngọn xanh rờn, hình nhọn mủi tên lao thẳng lên bầu trời”.

Rừng xà nu là sự kết hợp giữa cảm hứng sử thi và bút pháp sử thi điêu luyện, xứng đáng là bản anh hùng ca về cuộc chiến đấu của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên trong cuộc chiến tranh chông Mĩ cứu nước vừa qua.

GỢI Ý ĐỌC – HIỂU

Câu 1

a) Tnú: Theo Nguyễn Trung Thành nguyên mẫu của Tnú là Đề – người dân tộc Xơ-đăng, ở Tây Nguyên. Nhà văn lây tên Tnú “không khí hơn nhiều, Tây Nguyên hơn nhiều” so với tên Đề.

Là nhân vật chính của truyện, cha mẹ mất sớm lớn lên nhờ sự dưỡng nuôi, đùm bọc của dân làng Xô Man; Cụ Mết nhận xét về Tnú: “Đời nó khổ, nhưng bụng nó sạch như nước suối làng ta”. Tnú rát gan góc táo bạo. Học chữ chậm nhưng “đi đường núi thì đầu nó sáng lạ lùng”. Khi làm liên lạc qua sông Tnú “cứ lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang, vượt lên trên mặt nước, cỡi lên thác băng băng như con cá kình”. Khi bị giặc đốt cháy mười ngón tay, Tnú nghiến răng chịu đựng chứ quyêt “không thèm kêu van”. Tnú có mối thù chồng chất với quân địch vì chúng giết hại vợ con anh, khiến anh trở thành người tàn tật, hơn thế nữa chúng còn giết hại cả dân làng anh.

Tnú dũng cảm và trung thành với cách mạng. Trong những năm tháng ác liệt nhất giặc lùng sục khủng bố điên cuồng giết hại dân làng, khi bị chúng bắt, tra hỏi chỗ ở của cộng sản, Tnú đã đặt tay lên bụng mình và nói “ở dây này”. Bọn – lính chém lưng anh đầy vết dọc ngang. Khi chứng kiến cảnh vợ con mình bị giặc tra tấn dã man, Tnú tay không nhảy vào giữa lũ giặc đang điên cuồng. Nhưng anh không cứu được vợ con mà còn bị chúng hành hạ tra tấn dữ dằn. Vì vậy khi dân làng quật khởi, Tnú tòng quân như lẽ hẳn nhiên. vật này, nhà Khi miêu tả nhânvăn chú ý dụng công miêu tả bàn tay của anh. Có thể nói đây cũng là chi tiết gây ấn tượng nhất đói với người đọc. Từ đôi tay của Tnú, người đọc không những hình dung được cuộc đời mà còn hình dung được cả tính cách của anh.

Ấn tượng không thế nào quên được về bàn tay anh chính là đoạn cao trào mãnh liệt của truyện: giặc quấn giẻ tẩm dầu xà nu vào mười ngón tay anh và đốt: “Mười ngón tay đã thành mười ngọn đuốc”. Cũng chính mười ngọn đuốc đó đã làm mồi châm ngọn lửa cho dân làng Xô Man nổi dậy. Tuy tàn tật nhưng đôi bàn tay anh vần cầm được giáo được súng đế đánh giặc, hơn thế nữa vẫn có thế bóp chết tên chỉ huy địch khi hắn cố thủ trong hầm.

Có thể nói qua nhân vật Tnú, nhà văn Nguyễn Trung Thành nhằm thể hiện phẩm chất, số phận và đặc biệt là con dường đi theo cách mạng của nhân dân Tây Nguyên, nhân dân miền Nam trong thời kì chống Mĩ cứu nước giành lại độc lập, tự do.

b) Cụ Mết: Là một già làng quắc thước râu dài tới ngực đen bóng, mắt sáng và xếch ở trần “ngực căng như một cẩy xà nu lớn”. Ông thế hiện rất đậm nét tính cách của con người Tây Nguyên bất khuất. Cụ tượng trưng cho lịch sử cho truyền thống hiên ngang, cho sức sống bền bỉ của dân làng. Cụ nói với con cháu: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”… “Thế là bắt đầu rồi. Đốt lửa lên! Tất cả người già, người trẻ, người đàn ông, người đàn bà, mỗi người phải tìm lấy một cây giáo, một cây mác, một cây dụ, một cây rựa. Ai không có thì vót chông, năm trăm cây chông. Đốt lửa lên”. Nhân dân làng Xô Man vùng dậy giết giặc theo tiếng hô của cụ Mết: “Chém! Chém hết!” và “Cụ Mết đứng dậy; lưỡi mác dài trong tay, thằng Dục nằm dưới lưỡi mác của cụ Mết!!”.

c) Dít: Là nhân vật tiêu biểu cho lực lượng chiến đấu, hình ảnh những thanh niên Tây Nguyên được rèn luyện và trưởng thành qua thử thách ác liệt của cuộc chiên đâấu chống ké thù bảo vệ bản làng. Cô có vị trí quan trọng trong cuộc đấu tranh cùa dân làng Xô Mạn. Dít là con người cương quyết bảo dam nguyên tắc – cách mạng, đặt việc của dân làng lên trên hết.

d) Heng: Là nhân vật tiêu biểu cho thê’ hộ tuổi nhỏ của làng Xó Man, Heng nhí nhảnh hồn nhiên yêu đời ngộ nghĩnh và thật đáng yêu. Heng nhất định sẽ tiếp nô’i được con đường đã chọn của cụ Mết, Tnú, Mai và Dít. Tác giả tập trung miêu tả các nhân vật trên nhằm khẳng định dân làng Xô Man nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung từ thế hệ này sang thế hệ khác tiếp nô’i nhau hiên ngang bất khuất, chiến đấu bảo vệ đất nước quê hương.


Câu 2

Trong câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú, chi tiết gây ấn tượng sâu đậm nhất cho tôi là hình ảnh bàn tay. Qua bàn tay anh, người đọc hình dung lên dđược cuộc đời và tính cách của anh. Lúc còn lành lặn, bàn tay anh là bàn tay trung thực, bàn tay tình nghĩa. Chính bàn tay đó đã cầm phấn viết chữ của bậc đàn anh dạy cho, đã cầm đá tự đập vào đầu mình tự trừng phạt mình khi học chữ mà hay quên, bàn tay đã tự đặt lên bụng mình: “Cộng sản ở đây này”. Đó cũng là bàn tay khi anh thoát ngục Kon Turn về gặp Mai ở lối vào làng, Mai đã cầm bàn tay anh mà giàn giụa nước mắt.

Đôi bàn tay Tnú, mười ngón đã bị giặc quân giẻ tẩm dầu: “Đó là đôi bàn tay của lòng dũng cảm, chịu đựng”. “Anh không cảm thấy lứa ở mười ngón tay nữa. Anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng. Máu anh mặn chát ở đầu lưỡi. Răng anh đã cắn nát môi anh rồi”, mười ngón tay anh clìám bùng ngọn lửa quật khởi của dân làng Xô Man. Đã dược dập lửa nhưng bàn tay Tnú mỗi ngón chỉ còn lại hai đô’t. Đốt tay không thể mọc lại. Dấu vết căm thù mà Tnú mang theo trọn đời mình.

Nhưng cũng chính bàn tay tật nguyền đã cầm giáo, cầm súng giết giặc. Cũng chính bàn tay tật nguyền ấy ở cuối truyện đã bóp chết tên chỉ huy đồn địch ngay trong hầm cố thủ của nó.

Câu 3

Xem hình tượng cây xà nu ở phần đầu, sau phần tóm tắt truyện.

Câu 4

Qua truyện ngắn Rừng xà nu, Nguyền Trung Thành muôn gửi đến người đọc tư tưởng cơ bản nằm trong lời của cụ Mết kêu gọi dân làng Xô Man: “Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu”: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Đây cũng chính là tư tưởng chủ đạo của truyện: phải dùng bạo lực cách mạng đế chống lại bạo lực phản cách mạng, vũ trang chiến đấu là con đường tất yếu để tự giải phóng của nhân dân.

Đó cũng là chân lí của một dân tộc có sức sống mãnh liệt như rừng cây xà nu kia, chân lí của một dân tộc anh hùng bất khuất.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

4

Bài soạn “Rừng xà nu” số 4

A. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

1. Tác giả

Nguyễn Trung Thành (bút danh là Nguyên Ngọc) tên khai sinh là Nguyễn Văn Báu, sinh năm 1932, quê ở huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam.
Năm 1950, ông vào bộ đội, sau đó làm phóng viên báo quân đội nhân dân liên khu V. Những năm tháng lăn lội trong cuộc kháng chiến chống Pháp ở Liên khu V đã giúp ông hiểu biết sâu sắc về Tây Nguyên, để sau khi tập kết ra Bắc ông có đủ vốn hiểu biết viết cuốn tiểu thuyết đầu tay Đất nước đứng lên. Sau năm 1954, ông còn có những sáng tác phục vụ công cuộc xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc như Rẻo cao (1961).
Năm 1962, ông tình nguyện trở về chiến trường miền Nam và Tây Nguyên.
Với bút danh Nguyễn Trung Thành ông đã có nhiều tác phẩm nổi tiếng có tiếng vang lớn trong đời sống lúc bấy giờ như tập truyện và ký Trên quê hương những anh hùng ĐIện Ngọc (1969) và tiểu thuyết Đất Quảng (1971-1974).
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông tiếp tục cống hiến cho phong trào văn học nước nhà. Ông từng là Uỷ viên Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam, Tổng biên tập báo Văn nghệ

2. Tác phẩm

Truyện ngắn Rừng xà nu được viết năm 1965 (ra mắt lần đầu tiên trên tạp chí Văn nghệ quân giải phóng Trung Trung Bộ số 2/1965), sau đó in trong tập trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc là một trong số tác phẩm nổi tiếng nhất trong các sáng tác của Nguyễn Trung Thành viết trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ.
Văn bản trong sách giáo khoa có lược một số đoạn.

B. BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI

Câu 1: Trang 48 sgk ngữ văn 12 tập 2

Anh (chị) cảm nhận được ý nghĩa gì của truyện ngắn qua:

a) Nhan đề tác phẩm

c) Đoạn văn miêu tả cánh rừng xà nu dưới tầm đại bác

c) Hình ảnh những ngọn đồi , cánh rừng xà nu trải ra hút tầm mắt, chay tít tắp đến tận chân trời luôn trở đi trở lai trong tác phẩm.

Bài làm:
a) Cảm nhận ý nghĩa của truyện ngắn qua nhan đề
Nhan đề “Rừng xà nu” vừa mang ý nghĩa hiện thực , vừa mang ý nghĩa biểu tượng:
Ý nghĩa tả thực : Nhà văn nói về cây xà nu – một loài cây sống thành rừng ở Tây Nguyên. Loài cây này có sức sống mãnh liệt, không chịu khuất phục trước sự thay đổi của thời tiết.Cây xà nu luôn gắn bó mật thiết và quan hệ chiếu ứng với cuộc sống của người dân Tây Nguyên. Ý nghĩa biểu tượng: Qua sức sống mãnh liệt của cây xà nu, rừng xà nu, nhà văn nói đến nỗi đau và sức sống , phẩm chất kiên cường bất khuất của nhân dân Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nhan đề Rừng xà nu còn gợi lên chủ đề tác phẩm cũng như cảm hứng sử thị, bi tráng của thiên truyện ngắn đặc sắc này.

b) Đoạn văn miêu tả cánh rừng xà nu nằm dưới tầm đại bác
Đoạn văn miêu tả cánh rừng xà nu nằm dưới tầm đại bác là đoạn mở đầu thiên truyện. Đoạn văn mở đầu này đã tạo một không khí ấn tượng về câu chuyện làng Xô man chống Mỹ được kể trong tác phẩm. Đại bác đã bắn hàng vạn cây xà nu nhưng những cây xà nu mới lại mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời. Trong đau thương, xà nu vẫn sinh sôi nảy nở, trường tồn, bất diệt như sức sống của người làng Xô man đánh Mỹ và bọn tay sai để bảo vệ buôn làng góp phần bảo vệ đất nước. Như vậy là cả “làng” và “xà nu” đều là đối tượng hủy diệt trực tiếp và tàn bạo của bom đạn kẻ thù, sự sống đẹp đẽ, an lành và bình dị đang bị đập trong tư thế đối đầu với sự hủy diệt phi lý, phi nhân tính, với cái chết phi tự nhiên; những sự sinh tồn vĩ đại, đẹp đẽ của cả thiên nhiên và con người đang đứng trước mối đe dọa của sự diệt vong. Sự tàn phá mang tính hủy diệt của bom đạn kẻ thù đã khiến “cả rừng xà nu hàng vạn cây, không có cây nào không bị thương”. Đoạn văn đã tô đậm, khắc sâu ý nghĩa nhan đề và góp phần bộc lộ sâu sắc chủ đề tác phẩm.

c) Hình ảnh những ngọn đồi, cánh rừng xà nu trải ra hút tầm mắt, chạy tít tắp đến tận chân trời luôn trở đi trở lại trong tác phẩm.
Hình ảnh xà nu trở đi trở lại nhiều lần trong tác phẩm tới hơn 20 lần; mở đầu là hình ảnh cánh rừng xà nu dưới bom đạn của kẻ thù – kết thúc tác phẩm là hình ảnh của những cánh rừng xà nu chạy dài hút tầm mắt. Tác dụng nhấn mạnh, làm nổi bật biểu tượng của câu chuyện, tạo ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc làm nổi bật giá trị tư tưởng của tác phẩm tạo ra mối liên hệ mật thiết giữa các thế hệ cây xà nu với các thế hệ nối tiếp nhau của dân làng Xô Man trong kháng chiến chống Mỹ.

Câu 2: Trang 48 sgk ngữ văn 12 tập 2
Tác giả vẫn coi “Rừng xà nu” là truyện một đời được kể trong một đêm, hãy cho biết:
a) Người anh hùng mà cụ Mết kể trong cái đêm ấy có những phẩm chất đáng quý nào? So với nhân vật A Phủ thì hình tượng đó có gì mới mẻ?
b) Vì sao trong câu chuyện bi tráng của Tnú cụ Mết nhắc đi nhắc lại Tnú đã không cứu được vợ con, để rồi khắc sâu vào tâm trí người nghe câu nói: ”Chúng nó cầm súng, mình phải cầm giáo”?
c) Câu chuyện của Tnú cũng như câu chuyện của làng Xô man nói lên chân lý lớn lao nào của dân tộc ta trong kháng chiến chống Mỹ? Vì sao cụ Mết muốn chân lý đó phải được nhớ, được truyền lại cho con cháu?
d) Các hình tượng cụ Mết, Mai, Dít, Heng có vai trò gì trong việc khắc họa nhân vật chính và làm nổi bật tư tưởng cơ bản của tác phẩm?
Bài làm:
a) Phẩm chất, tính cách của người anh hùng Tnú:
Gan góc, táo bạo, dũng cảm, trung thực (khi còn nhỏ cùng Mai vào rừng tiếp tế cho anh Quyết
Lòng trung thành với cách mạng được bộc lộ qua thử thách (bị giặc bắt, tra tấn, lưng Tnú ngang dọc vết dao chém của kẻ thù nhưng anh vẫn gan góc, trung thành).
Số phận đau thương: Không cứu được vợ con, bản thân bị bắt, bị tra tấn (bị đốt mười đầu ngón tay).
Quật khởi đứng dậy cầm vũ khí tiêu diệt bọn ác ôn.

A Phủ và Tnú tuy được xây dựng trong hai tác phẩm của hai tác giả ở hai thời kì khác nhau, ở hai miền đất khác nhau, nhưng đều là những con người miền núi. Một người thuộc dân tộc Mèo ở vùng Tây Bắc nên thơ (A Phủ), một người thuộc dân tộc Strá ở vùng Tây Nguyên hùng vĩ (Tnú). Cả hai đều mồ côi cha mẹ từ thuở ấu thơ, mang dáng dấp những đứa con côi trong cổ tích. A Phủ và Tnú đều sớm dạn dày, gan góc bởi hoàn cảnh sống đầy thử thách. Có nét gì chung rất dễ nhận ra ở hai con người cách nhau hàng ngàn cây số: đó là sự mạnh mẽ về thể chất và tinh thần. A Phủ đã dám đánh cả con quan, để rồi kiên gan chịu đựng những trận đòn báo thù khủng khiếp. Tnú thì thuở ấu thơ đã dám ra rừng đem gạo nuôi cán bộ, bị bắt, bị chém ngang dọc trên bụng trên lưng vẫn không hé răng khai báo nơi ở của cán bộ, bị đốt mười đầu ngón tay bằng nhựa xà nu vẫn cắn mồi đến bật máu để chịu đựng. Hai người chịu hai kiểu hành hạ, hài kiểu cực hình khác nhau, nhưng ta đều thấy ở họ sự chịu đựng phi thường.

Cả A Phủ và Tnú đều là những con người luôn hướng về ánh sáng. Tnú bắt gặp lí tưởng cách mạng được truyền từ anh Quyết, cán bộ của Đảng hoạt động bí mật, Tnú giống như cây xà nu tiếp ánh sáng mặt trời để không ngừng vươn toả lên bầu trời tự do. A Phủ cũng lao khỏi bóng tối ở Hồng Ngài, chạy hàng tháng trời trong rừng để đến Phiềng Sa – khu du kích, rồi sau đó gặp cán bộ, được giác ngộ, trở thành đội trưởng đội du kích. Phẩm chất cách mạng ở những người dân miền núi trong hoàn cảnh ngặt nghèo đã được hai nhà văn thể hiện rất sinh động. Hai nhân vật ở hai vùng đất khác nhau, thuộc hai tộc người khác nhau, nhưng ta vẫn thấy ở họ có nét nào đó tương đồng trong tính cách. Ngoài sự cứng cỏi, gan góc, A Phủ và Tnú đều rất lặng lẽ, ít nói. Họ thuộc loại nhân vật hành động. Tuy nhiên, Tnú là một anh hùng được nâng lên thành pho sử thi. Mang ý thức, ý muốn của cộng đồng. Cuộc đời Tnú gắn với cách mạng từ thuở nhỏ nên phẩm chất cách mạng rất rõ ràng, vững chắc. Tnú là biểu tượng cho cộng đồng giàu truyền thống cách mạng trong khi đó A Phủ là chàng trai biết đến cách mạng khi đã trưởng thành

b) Câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú: “Tnú không cứu được vợ con”. Cụ Met nhắc tới bốn lần để nhấn mạnh: khi chưa cầm vũ khí. Tnú chỉ có hai bàn tay không thì ngay cả những người yêu thương nhất Tnú cũng không cứu được. Câu nói của cụ Mết muốn khẳng định: chỉ có cầm vũ khí đứng lên mới là con đường sống duy nhất, mới bảo vệ được những gì thân yêu, thiêng liêng nhất; chân lí cách mạng đúc rút từ chính thực tế máu xương, tính mạng của dân tộc, những con người thương yêu nên chân lí ấy phải ghi tạc vào xương cốt, tâm khảm và truyền lại cho các thế hệ tiếp nối.

c) Câu chuyện Tnú với dân làng Xô Man nói lên chân lí lớn của thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Phải chống lại mọi kẻ thù xâm lược, kể cả phải cầm vũ khi và hi sinh tính mạng.
Khi chưa cầm vũ khí, làng Xô Man rất đau thương: bọn giặc đi lùng sục như hùm beo, tiếng cười “sằng sặc” của những ác ôn, tiếng gậy sắt nện: “hừ hự” xuống thân người. Anh suýt bị treo cổ. Bà Nhan bị chặt đầu. Mẹ con Mai bị chết thảm. Tnú bị đốt mười đầu ngón tay…Cuộc sống ngột ngạt dồn nén đau thương, căm thù. Đêm Tnú bị đốt mười đầu ngón tay, làng Xô Man đã nổi dậy. Rừng xà nu “ào ào rung động . “xác mười tên giặc ngổn ngang”, tiếng cụ Mết như mệnh lệnh chiến đấu: “thếlà bắt đầu rồi, đốt lửa lên”. Đó là sự nổi dậy đồng khởi làm rung chuyển núi rừng. Câu chuyện về cuộc đời về con người trở thành câu chuyện một thời, một nước. Như vậy câu chuyện về cuộc đời Tnú đã mang ý nghĩa cuộc đời một dân tộc. Nhân vật sử thi của Nguyễn Trung Thành gánh trên vai sứ mệnh lịch sử to lớn.

d) Vai trò của nhân vật: Cụ Mết, Mai, Dừ, Heng đối với việc làm nổi bật nhân vật trung tâm và chủ đề:
Cụ Mết, Mai, Dít, bé Heng là sự tiếp nối các thế hệ làm nổi bật tinh thần bất khuất của làng Xô Man nói riêng, của Tây Nguyên nói chung
Cụ Mết “Quắc thước như một cây xà nu lớn” là hiện thân cho truyền thống thiêng liêng, biểu tượng cho sức mạnh tập hợp để nổi dậy đồng khởi.
Mai, Dít là thế hiện tại, trong Dít có Mai của thời trước và cóDít của hôm nay. vẻ đẹp của Dít là vẻ đẹp của sự kiên định, vững vàng trong bão táp chiến tranh.
Bé Heng là thế hệ tiếp nối, kế tục cha anh để đưa cuộc chiến tới thắng lợi cuối cùng.
Dường như cuộc chiến khốc liệt này đòi hỏi mỗi người Việt Nam phải có sức trỗi dậy phi thường, phải như những cây xà nu nằm trong tầm đại bác.


Câu 3: Trang 49 sgk ngữ văn 12 tập 2
Theo anh (chị) hình ảnh cánh rừng xà nu và hình tượng nhân vật Tnú gắn kết hữu cơ, khăn khít với nhau như thế nào?
Bài làm:
Hình tượng rừng xà nu có quan hệ mật thiết với hình tượng nhân vật Tnu. Hai hình tượng này không tách rời nhau mà gắn bó khăng khít với nhau. Rừng xà nu sẽ không thể trải mãi tới chân trời trong màu xanh bất diệt khi con người chưa thấm thía bài học “chúng nó đã càm súng mình phải cầm giáo”.

Tác giả đã kết hợp miêu tả bao quát lẫn cụ thể, phối hợp cảm nhận của nhiều giác quan khi miêu tả cây xà nu tạo nên hình ảnh cây xà nu đầy sức lực, tràn trề sưc sống. Tác giả luôn miêu tả hình tượng cây xà nu với con người, các hình thức nhân hóa, ẩn dụ, tượng trưng đều được vận dụng nhằm thể hiện sống động vẻ hung vĩ của thiên nhiên và gợi ra những lien tưởng về con người. Nhà văn muốn dùng rừng xà nu làm biểu tượng cho tinh thần gan góc, dũng cảm, dạn dày, bất khuất, trung kiên … của nhân vật Tnú và dân làng Xô Man. Nhờ thế những đoạn văn miêu tả rừng xà nu giống như một bài thơ trữ tình với giọng văn đầy biểu cảm.

Câu 4: Trang 49 sgk ngữ văn 12 tập 2
Nêu và phân tích cảm nhận của anh (chị ) về vẻ đẹp nghệ thuật của tác phẩm
Bài làm:
Đặc sắc, đậm đà chất sử thi hùng tráng. Chất sử thi toát lên qua đề tài, chủ đề, cốt truyện, nhân vật, hình ảnh thiên nhiên, các chi tiết nghệ thuật, giọng điệu, ngôn ngữ của tác phẩm:
Đề tài có ý nghĩa lịch sử: sự vùng dậy của dân làng Xô man chống Mỹ Diệm.
Bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, hoành tráng. Rừng xà nu làm nền cho bức tranh về cuộc đấu tranh chống giặc (Cả rừng … ào ào rung động, lửa cháy khắp rừng).
Các nhân vật tiêu biểu được miêu tả trong bối cảnh trang nghiêm, hùng vĩ, vừa mang phong cách Tây Nguyên vừa mang phẩm chất của anh hùng thời đại.
Kết cấu vòng tròn: Mở đầu, kết thúc là hình ảnh của rừng xà nu, cùng với sự trở về của Tnú sau ba năm xa cách.
Cách trần thuật: Chuyện về sự nổi dậy của dân làng và cuộc đời Tnú được kể lại trong một đêm anh về thăm làng, qua lời cụ Mết, bên bếp lửa bập bùng – Giọng kể trang trọng như truyền cho thế hệ con cháu những trang sử bi thương và anh hùng của cộng đồng. Chuyện về thời hiện tại được kể bằng giọng điệu và ngôn ngữ sử thi.
Cảm hứng lãng mạn: tính lãng mạn thể hiện ở cảm xúc của tác giả bộc lộ trong lời trần thuật, thể hiện ở việc đề cao vẻ đẹp của thiên nhiên và con người trong thế đối lập với sự tàn bạo của kẻ thù.


Bài tập: Luyện tập trang 49 sgk ngữ văn 12 tập 2
Viết một đoạn văn phát biểu suy nghĩ, cảm xúc của anh chị về đôi bàn tay của Tnú.
Bài làm:
Hình ảnh đôi bàn tay của Tnú mang đến những ấn tượng rất lớn trong lòng người đọc bởi nó mang nhiều lớp ý nghĩa.
Có thể nói đôi bàn tay ấy cũng có một cuộc đời, cuộc đời ấy giống như cuộc đời của Tnú vậy. Cũng có những lúc anh hùng nhưng cúng phải chịu nhiều đau thương mất mát. Thế nhưng đến cuối cùng bàn tay ấy cũng giết chết biết bao nhiêu kẻ thù để báo thù cho tất cả những đau thương mà nó cũng như chủ nhân nó phải chịu.Trước hết đó là một bàn tay lành lặn. Bàn tay ấy đã cùng với Mai học chữ trong rừng. Bàn tay ấy đã nhanh nhẹn cầm những thư liên lạc vượt qua mọi gian nan và những vòng vây của giặc để mang đến cho những người cán bộ trong rừng. Qua đây ta thấy hình ảnh đôi bàn tay của Tnú hiện lên thật sự rất đẹp, rất chắc chắn khi cầm thư và đồ tiếp tế. Một bàn tay nhỏ nhắn như vậy mà có thể cầm biết bao nhiêu đồ như vậy, quả thật rất đáng khen.

Không những thế ta còn thấy được một người anh hùng Tnú tuy bé nhỏ nhưng đã mang sẵn bản chất anh hùng, bản chất sử thi. Bàn tay ấy không chỉ vậy mà còn gan góc cầm đá đập vào đầu của Tnú khi học không cho được cái chữ vào đầu. Theo như anh Quyết nói thì phải học cái chữ để có thể trở thành cán bộ được. Chính vì thế mà khi không học được, học chữ này thì quên mất chữ kia đôi bàn tay cầm lấy đá đập đầu khiến cho máu chảy ròng ròng. Chính hình ảnh bàn tay ấy làm nổi bật lên hình ảnh người anh hùng Tây nguyên ngay từ bé đã mang một tư tưởng lớn của cách mạng, phải trở thành cán bộ cách mạng để cứu dân làng, cứu nước. Và khi không học được chữ sợ rằng mình không thể giúp ích cho đất nước nên Tnú mới dùng chính bàn tay của mình để trừng trị mình.Và chính đôi bàn tay ấy anh đã giết chết bao nhiêu là kẻ thù.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

5

Bài soạn “Rừng xà nu” số 5

I, Tìm hiểu chung bài Rừng xà nu

1.Tác giả

Nguyễn Trung Thành tên thật là Nguyên Ngọc, viết nhiều và rất hay về mảnh đất Tây Nguyên.

2.Tác phẩm

Truyện ngắn Rừng xà nu được viết năm 1965 là tác phẩm nổi tiếng nhất trong số các sáng tác của Nguyên ngọc viết trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mĩ.

II, Đọc hiểu bài Rừng xà nu

Câu 1 (trang 48 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2)

Nhan đề của tác phẩm:

Rừng xà nu là hình tượng xuyên suốt toàn văn bản.
Rừng xà nu là kí ức đẹp với những kỉ niệm sâu sắc của nhà văn về mảnh đất và con người Tây Nguyên.
Tiêu biểu cho số phận, sức sống bất diệt và tinh thần đấu tranh quật khởi của nhân dân Tây Nguyên và cả dân tộc Việt Nam.
Cảnh rừng xà nu dưới tầm đại bác:

Nằm trong “tầm đại bác”, ngày 2 lần bị bắn, “Hầu hết đạn đại bác đều rơi vào cây xà nu cạnh con nước lớn”.
Hàng vạn cây không cây nào không bị thương.
→ Nằm trong vùng của sự hủy diệt, chịu sự nguy hiểm rình rập.

Hình ảnh những ngọn đồi, cảnh rừng xà nu trải ra hút tầm mắt, chạy tít tắp cho đến tận chân trời luôn trở đi trở lại trong tác phẩm: gợi ra cảnh rừng xà nu với sức sống bất diệt hay cũng chính là vẻ đẹp của người Tây Nguyên và của cả dân tộc.


Câu 2 (trang 48 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2)

a, Người anh hùng mà cụ Mết kể chính là Tnú với những phẩm chất đáng quý:

Tnú là người dũng cảm, không sợ hi sinh, tình yêu và tinh thần trung thành với cách mạng.

Khi còn nhỏ:

Đi thì không bao giờ đi đường mòn, rẽ rừng mà chạy…
Đi nuôi cán bộ.
Quyết tâm học chữ.
Làm liên lạc bị bắt nhất quyết không khai cộng sản ở đâu.
Khi trưởng thành:

Thay anh Quyết lãnh đạo dân làng.
Xông vào cứu vợ con dẫu biết mình sẽ bị bắt và tra tấn dã man
Bị giặc đốt mười ngón tay nhưng không kêu van.
* Là người giàu tình tình cảm yêu thương:

Yêu thương vợ con sâu sắc.
Yêu quê hương: đó là tình yêu máu thịt, đi đâu cũng đau đáu hướng về quê hương.
→ Tnú vừa là nguyên mẫu của vẻ đẹp ngoài đời vừa mang vẻ đẹp của con người Tây Nguyên. Đó là vẻ đẹp kết tinh những phẩm chất của người anh hùng.

* Nếu nhân vật A Phủ được Tô Hoài miêu tả chủ yếu với cái nhìn bên ngoài thông qua ngoại hình và hành động thì Tnú được Nguyên Ngọc khám phá từ những xung đột, giằng xé nội tâm từ bên trong.

b, Trong câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú, cụ Mết nhắc lại tới bốn lần việc Tnú không cứu được vợ con, để rồi khắc ghi vào tâm trí của người nghe câu nói: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo” như một điệp khúc đau thương, day dứt nhằm nhấn mạnh:

“Khi chưa có vũ khí, chỉ có hai bàn tay không thì ngay cả những người yêu thương nhất cũng không cứu được”.

→ Đưa ra quy luật tất yếu: Phải dùng bạo lực cách mạng để chống laị bọn phản cách mạng, đó là chân lí đấu tranh ngàn đời của dân tộc.

c, Câu chuyện của Tnú cũng như của dân làng Xô Man làm sáng ngời chân lí của dân tộc ta trong thời địa bấy giờ: chỉ có cầm vũ khí đứng lên mới là cách duy nhất để chiến thắng và thoát khỏi ách nô lệ.

d, Vai trò của các nhân vật

Cụ Mết: là hiện thân cho truyền thống thiêng liêng, biểu tượng cho sức mạnh để tập hợp nổi dậy.
Mai, Dít: là vẻ đẹp của thế hệ hiện tại (kiên định, vững vàng trong bão táp chiến tranh).
Bé Heng: là thế hệ nối tiếp đưa cuộc chiến đến thắng lợi cuối cùng.
→ Các nhân vật làm thành tập thể đoàn kết, lớp lớp nối tiếp nhau. Sức mạnh đó hay cũng chính là sức mạnh của cả dân tộc.

Câu 3 (trang 49 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2)

Hình tượng cánh rừng xà nu và hình tượng nhân vật Tnú có một sự gắn kết hữu cơ hết sức sâu sắc, vẻ đẹp của rừng xa nu hay chính là phẩm chất người Tây Nguyên, của Tnú, chính vì vậy mà con người được miêu tả đều gắn với hình ảnh về cây xà nu.

Câu 4 (trang 49 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2)

Vẻ đẹp nghệ thuật của tác phẩm:

Kết cấu đầu cuối tương ứng, tạo nên không khí mang đậm màu sắc tây Nguyên.
Ngôn ngữ phù hợp với cá tính nhân vật, mang đậm bản sắc Tây Nguyên, đậm chất anh hùng ca, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa hiện thực khốc liệt và sắc màu lãng mạn.
Khắc họa hình tượng mang vẻ đẹp tráng lệ, hào hùng.
→ Sự thống nhất cao độ giữa chân lí đời sống và chân lí nghệ thuật.

III, Luyện tập bài Rừng xà nu

Câu 2 (trang 49 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2)

Hình ảnh đôi bàn tay Tnú: Bàn tay Tnú gắn liền với cuộc đời nhân vật, đi dọc theo tác phẩm và trở thành điểm nhấn của tác phẩm.

Đôi bàn tay khi nguyên vẹn: đôi bàn tay của nghị lực, ý chí, quyết tâm, đôi bàn tay dũng cảm.

Bàn tay khi bị giặc đốt, được chữa lành anh vào lực lượng, tiếp tục chống giặc.

→ Vẫn vững vàng cầm vũ khí.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

6

Bài soạn “Rừng xà nu” số 6

1. Tác giả

– Nguyễn Trung Thành (bút danh khác là Nguyên Ngọc) sinh năm 1932, quê ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.

– Năm 1950 ông vào bộ đội, sau đó làm phóng viên báo Quân đội nhân dân Liên khu V.

– Những năm tháng lăn lộn trong cuộc kháng chiến chống Pháp ở Liên khu V đã giúp ông hiểu biết sâu sắc về Tây Nguyên, để sau khi tập kết ra Bắc có thể viết cuốn tiểu thuyết đầu tay Đất nước đứng lên (tác phẩm được tặng giải Nhất – Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955).

– Sau năm 1954, ông còn có những sáng tác phục vụ công cuộc xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc, như tập truyện ngắn Rẻo cao (1961).

– Năm 1962, ông tình nguyện trở về chiến trường miền Nam, hoạt động ở Quảng Nam và Tây Nguyên.

– Với bút danh Nguyễn Trung Thành, ông đã viết nhiều tác phẩm có tiếng vang lớn trong đời sống lúc bấy giờ, như tập truyện và kí Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc (1969) và tiểu thuyết Đất Quảng (1971 – 1974).

– Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, ông tiếp tục cống hiến cho phong trào văn nghệ của nước nhà. Ông từng là Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Tổng biên tập báo Văn nghệ.

2. Tác phẩm

– Truyện ngắn Rừng xà nu được viết năm 1965 (ra mắt lần đầu tiên trên tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng Trung Trung Bộ số 2/1965, sau đó in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc) là tác phẩm nổi tiếng nhất trong số các sáng tác của Nguyên Ngọc viết trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mĩ.

– Nội dung: Truyện mang âm hưởng sử thi hùng tráng, thông qua việc miêu tả sức sống mãnh liệt của cây xà nu và người dân Xô-man để khắc hoạ hình ảnh Tây Nguyên anh hùng, bất khuất một lòng đi theo Đảng, thể hiện thành công chủ nghĩa anh hùng Cách mạng Việt Nam.

– Bố cục:

+ Phần 1 (phần chữ nhỏ): Tnú sau ba năm theo cách mạng giờ về thăm làng

+ Phần 2 (còn lại): cụ Mết kể câu chuyện về cuộc đời của Tnú và người dân làng Xô Man


Đọc – hiểu văn bản

1 – Trang 48 SGK

Anh (chị) cảm nhận được ý nghĩa gì của truyện ngắn qua:

a) Nhan đề tác phẩm.

b) Đoạn văn miêu tả cánh rừng xà nu dưới tầm đại bác.

c) Hình ảnh những ngọn đồi, cánh rừng xà nu trải xa hút tầm mắt, chạy tít tắp đến tận chân trời luôn trở đi trở lại trong tác phẩm.

Trả lời:

a) Ý nghĩa nhan đề tác phẩm

Nhà văn có thể đặt rất nhiều cái tên khác nhau cho tác phẩm của mình, chẳng hạn: Làng Xô man; Tnú; những con người bất khuất… Tuy nhiên, cuối cùng tác giả đã lựa chọn đặt tên cho tác phẩm là Rừng xà nu với mong muốn sáng tạo một hình tượng mang tính sử thi nói về người Tây Nguyên kiên cường. Bởi rừng xà nu rất gần gũi với người Tây Nguyên và có nhiều chi tiết giống với con người nơi đây nên có thể đại diện cho đồng bào Tây Nguyên, cũng như gợi ra chất Tây Nguyên.

b) Hình tượng rừng xà nu dưới tầm đại bác

– Mở đầu tác phẩm, nhà văn tập trung giới thiệu về rừng xà nu, một rừng xà nu cụ thể được xác định: “Nằm trong tầm đại bác của đồn giặc”, “hầu hết đại bác đều rơi vào đồi xà nu cạnh con nước lớn”.

– Nguyễn Trung Thành đã phát hiện ra: “cả rừng xà nu hàng vạn cây không cây nào là không bị thương”. Tác giả đã chứng kiến nỗi đau của xà nu: “có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình đổ ào ào như một trận bão”, “có những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người bị đạn đại bác chặt đứt làm đôi, ở những cây đó, nhựa còn trong, chất dầu còn lỏng, vết thương không lành được cứ loét mãi ra, năm mười hôm sau thì cây chết”.

– Nhưng tác giả đã phát hiện được sức sống mãnh liệt của cây xà nu: “trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khoẻ như vậy”.

– Xà nu không những tự biết bảo vệ mình mà còn bảo vệ sự sống, bảo vệ làng Xô man: “Cứ thế hai ba năm nay, rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn ra che chở cho làng”.

– Khi miêu tả rừng xà nu, cây xà nu, nhà văn đã sử dụng biện pháp ẩn dụ, nhân hoá như một phép tu từ chủ đạo, ông luôn lấy nỗi đau của vẻ đẹp của con người làm chuẩn mực để nói về xà nu khiến xà nu trở thành một ẩn dụ cho con người, một biểu tượng của con người Tây Nguyên bất khuất, kiên cường.

Các thế hệ con người làng Xô man cũng tương ứng với các thế hệ cây xà nu. Cụ Mết có bộ ngực “căn như một cây xà nu lớn”, tay “sần sùi như vỏ cây xà nu”. Cụ Mết chính là cây xà nu cổ thụ hội tụ tất cả sức mạnh của rừng xà nu. Tnú cường tráng như một cây xà nu được luyện trong đau thương đã trưởng thành mà không đại bác nào giết nổi. Dít trưởng thành trong thử thách với bản lĩnh và nghị lực phi thường cũng giống như xà nu phóng lên rất nhanh tiếp lấy ánh mặt trời. Cậu bé Heng là mầm xà nu đang được các thế hệ xà nu trao cho những tố chất cần thiết để sẵn sàng thay thế trong cuộc chiến cam go còn có thể phải kéo dài “năm năm, mười năm hoặc lâu hơn nữa”.

c) Hình ảnh đồi xà nu, rừng xà nu “trông xa xa đến ngút tầm mắt”, “nối tiếp tới chân trời”, lặp đi lặp lại trong truyện gợi ra cảnh rừng xà nu hùng tráng, kiêu dũng và bất diệt, gợi ra sự bất diệt, kiêu dũng của con người Tây Nguyên nói riêng và con người Việt Nam nói chung trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước vĩ đại. Ấn tượng đọng lại trong kí ức người đọc chính là cái bát ngát của cánh rừng xà nu kiêu dũng. Đó là chất sử thi, chất anh hùng về tinh thần quật khởi của đồng bào Tây Nguyên.

2 – Trang 48 SGK

Tác giả vẫn coi “Rừng xà nu là truyện của một đời và được kể trong một đêm”. Hãy cho biết:

a) Người anh hùng mà cụ Mết kể trong cái đêm ấy có những phẩm chất đáng quý nào? So với nhân vật A Phủ (trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài) hình tượng Tnú có gì mới mẻ hơn?

b) Vì sao trong câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú, cụ Mết nhắc đi nhắc lại rằng Tnú đã không cứu sống được vợ con, để rồi khắc ghi vào tâm trí của người nghe câu nói: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”?

c) Câu chuyện của Tnú cũng như của dân làng Xô Man nói lên chân lí lớn nào của dân tộc ta trong thời đại bấy giờ? Vì sao cụ Mết muốn chân lí đó phải được nhớ, được ghi để truyền cho con cháu?

d) Các hình tượng cụ Mết, Mai, Dít, bé Heng có vai trò gì trong việc khắc họa nhân vật chính và làm nổi bật tư tưởng cơ bản của tác phẩm?

Trả lời:

a) Phẩm chất, tính cách của người anh hùng Tnú:

– Gan góc, táo bạo, dũng cảm, trung thực (khi còn nhỏ cùng Mai vào rừng tiếp tế cho anh Quyết).

– Lòng trung thành với cách mạng được bộc lộ qua thử thách (bị giặc bắt, tra tấn, lưng Tnú ngang dọc vết dao chém của kẻ thù nhưng anh vẫn gan góc, trung thành).

– Số phận đau thương: Không cứu được vợ con, bản thân bị bắt, bị tra tấn (bị đốt mười đầu ngón tay).

– Quật khởi đứng dậy cầm vũ khí tiêu diệt bọn ác ôn.

b) Câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú: “Tnú không cứu được vợ con”. Cụ Mết nhắc tới bốn lần đế nhấn mạnh: khi chưa cầm vũ khí, Tnú chỉ có hai bàn tay không thì ngay cả những người yêu thương nhất Tnú cũng không cứu được. Câu nói của cụ Mết muốn khẳng định: chỉ có cầm vũ khí đứng lên mới là con đường sống duy nhất, mới bảo vệ được những gì thân yêu, thiêng liêng nhất; chân lí cách mạng đúc rút từ chính thực tế máu xương, tính mạng của dân tộc, những con người thương yêu nên chân lí ấy phải ghi tạc vào xương cốt, tâm khảm và truyền lại cho các thế hệ tiếp nối.

c) Chân lí được thể hiện qua câu chuyện:

Câu chuyện Tnú với dân làng Xô man nói lên chân lí lớn của thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Phải chống lại mọi kẻ thù xâm lược, kể cả phải cầm vũ khí và hi sinh tính mạng.

d) Vai trò của nhân vật: Cụ Mết, Mai, Dít, Heng đối với việc làm nổi bật nhân vật trung tâm và chủ đề:

– Cụ Mết, Mai, Dít, bé Heng là sự tiếp nối các thế hệ làm nổi bật tinh thần bất khuất của làng Xô man nói riêng, của Tây Nguyên nói chung.

– Cụ Mết: “quắc thước như một cây xà nu lớn” là hiện thân cho truyền thống thiêng liêng, biểu tượng cho sức mạnh tập hợp để nổi dậy đồng khởi.

– Mai, Dít là thế hệ hiện tại, trong Dít có Mai của thời trước và có Dít của hôm nay. Vẻ đẹp của Dít là vẻ đẹp của sự kiên định, vững vàng trong bão táp chiến tranh.

– Bé Heng là thế hệ tiếp nối, kế tục cha anh để đưa cuộc chiến tới thắng lợi cuối cùng.

=> Dường như cuộc chiến khốc liệt này đòi hỏi mỗi người Việt Nam phải có sức trỗi dậy của một Phù Đổng Thiên Vương.

3 – Trang 49 SGK

Theo anh (chị), hình ảnh cánh rừng xà nu và hình tượng nhân vật Tnú gắn kết hữu cơ, khăng khít với nhau như thế nào?

Trả lời:

Hình ảnh cánh rừng xa nu và hình tượng nhân vật Tnú gắn kết khăng khít với nhau. Tnú lớn lên trong những cánh rừng xà nu, làm cách mạng, liên lạc băng qua những rừng xà nu, khi giặc đốt 10 đầu ngón tay Tnú, chúng đã tẩm nhựa xà nu để lửa cháy mạnh hơn. Nhưng Tnú vẫn đứng dậy, vẫn bền gan, dũng mãnh chống lại kẻ thù. Nhà văn muốn dùng rừng xà nu làm biểu tượng cho tinh thần gan góc, dạn dày, bất khuất, trung kiên… của nhân vật Tnú và dân làng Xô Man.

4 – Trang 49 SGK

Nêu và phân tích những cảm nhận của anh chị về vẻ đẹp nghệ thuật của tác phẩm.

Trả lời:

Những vẻ đẹp nghệ thuật của tác phẩm:

– Tác phẩm mang đậm chất sử thi hùng tráng. Khuynh hướng sử thi thể hiện đậm nét ở tất cả các phương diện: đề tài, chủ đề, hình tượng, hệ thống nhân vật, giọng điệu…

– Đề tài có ý nghĩa lịch sử: sự vùng dậy của dân làng Xô man chống lại chế độ Mỹ Diệm.

– Bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, hoành tráng mang đậm tính sử thi. Rừng xà nu cũng mang dáng dấp sử thi (Cả rừng … ào ào rung động, lửa cháy khắp rừng).

– Các nhân vật tiêu biểu được miêu tả trong bối cảnh trang nghiêm, hùng vĩ, vừa mang phong cách Tây Nguyên vừa mang phẩm chất của anh hùng thời đại: Tnú, cụ Mết, Dít, Mai.

– Cách thức trần thuật: kể theo hồi tưởng qua lời của cụ Mết (già làng), kể bên bếp lửa gợi nhớ lối kể “khan” sử thi của các dân tộc Tây Nguyên, những bài “khan” được kể như những bài hát dài hát suốt đêm.

– Cảm hứng lãng mạn: tính lãng mạn thể hiện ở cảm xúc của tác giả bộc lộ trong lời trần thuật, thể hiện ở việc đề cao vẻ đẹp của thiên nhiên và con người trong thế đối lập với sự tàn bạo của kẻ thù.


Luyện tập

Yêu cầu: Viết một đoạn văn phát biểu suy nghĩ và cảm xúc của anh (chị) về hình ảnh đôi bàn tay Tnú.

Gợi ý:

Có thể tham khảo các ý chính sau để triển khai cho bài viết:

– Hoàn cảnh nào dẫn tới việc Tnú bị đốt mười đầu ngón tay? (tóm tắt câu chuyện)

– Suy nghĩ cảm xúc của em đối với việc Tnú bị đốt mười đầu ngón tay?

+ Về tội ác của giặc (thằng Dục và đồng bọn tra tấn con người theo lối trung cổ)

+ Về tinh thần bất khuất của người anh hùng Tnú.

– Vì sao Tnú lại có phẩm chất anh hùng, bất khuất? (nêu lí tưởng lớn của dân tộc trong kháng chiến chống Mĩ thể hiện qua cách nói của các nhân vật trong truyện).

* Bài làm mẫu tham khảo:

Hình ảnh đôi bàn tay của Tnú mang đến những ấn tượng rất lớn trong lòng người đọc bởi nó mang nhiều lớp ý nghĩa.

Có thể nói đôi bàn tay ấy cũng có một cuộc đời, cuộc đời ấy giống như cuộc đời của Tnú vậy. Cũng có những lúc anh hùng nhưng cũng phải chịu nhiều đau thương mất mát. Thế nhưng đến cuối cùng, bàn tay ấy cũng giết chết biết bao nhiêu kẻ thù để báo thù cho tất cả những đau thương mà nó cũng như chủ nhân nó phải chịu. Trước hết, đó là một bàn tay lành lặn. Bàn tay ấy đã cùng với Mai học chữ trong rừng. Bàn tay ấy đã nhanh nhẹn cầm những thư liên lạc vượt qua mọi gian nan và những vòng vây của giặc để mang đến cho những người cán bộ trong rừng. Qua đây ta thấy hình ảnh đôi bàn tay của Tnú hiện lên thật sự rất đẹp, rất chắc chắn khi cầm thư và đồ tiếp tế. Một bàn tay nhỏ nhắn như vậy mà có thể cầm biết bao nhiêu đồ, quả thật rất đáng khen. Không những thế ta còn thấy được một người anh hùng Tnú tuy bé nhỏ nhưng đã mang sẵn bản chất anh hùng, bản chất sử thi. Bàn tay ấy không chỉ vậy mà còn gan góc cầm đá đập vào đầu của Tnú khi học không cho được cái chữ vào đầu. Theo như anh Quyết nói thì phải học cái chữ để có thể trở thành cán bộ được. Chính vì thế mà khi không học được, học chữ này thì quên mất chữ kia đôi bàn tay cầm lấy đá đập đầu khiến cho máu chảy ròng ròng. Chính hình ảnh bàn tay ấy làm nổi bật lên hình ảnh người anh hùng Tây Nguyên ngay từ bé đã mang một tư tưởng lớn của cách mạng, phải trở thành cán bộ cách mạng để cứu dân làng, cứu nước. Và khi không học được chữ sợ rằng mình không thể giúp ích cho đất nước nên Tnú mới dùng chính bàn tay của mình để trừng trị mình. Và chính đôi bàn tay ấy anh đã giết chết bao nhiêu là kẻ thù.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Top 6 Bài soạn “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành lớp 12 hay nhất

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chuyển lên trên