Nguyễn Duy là một nhà thơ hiện đại trong nền văn học Việt Nam đương đại. Vốn có niềm đam mê với thi ca, Nguyễn Duy làm thơ rất sớm, khi đang còn là học sinh trường cấp 3 Lam Sơn, Thanh Hóa. Năm 1973, ông đoạt giải nhất cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ với chùm thơ: Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông, "Giọt nước mắt và nụ cười". Trong suốt sự nghiệp sáng tác của mình, ông để lại nhiều tác phẩm hay nhưng ấn tượng nhất có lẽ là tác phẩm Ánh trăng viết năm 1978, thông qua ánh trăng để thể hiện nhiều ý nghĩa triết lí sâu sắc. Đó chính là đạo lí “uống nước nhớ nguồn”. 

Sau đây chúng tôi sẽ cập nhật 8 bài văn phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy hay nhất để chúng ta cùng cảm thụ nhé! 

Top 8 bài văn phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy hay nhất

1

Bài văn phân tích bài thơ ánh trăng của nguyễn duy 1

Tên tác phẩm: Ánh trăng

Tác giả: Nguyễn Duy (1948) tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ

Vài nét về tác phẩm: Bài thơ là sự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước rất bình dị, hiền hậu. Qua đó nhắc nhở người đọc phải có một thái độ sống “Uống nước nhớ nguồn”, thủy chung ân tình với quá khứ, nhớ quên là lẽ thường tình, quan trọng là biết thức tỉnh lương tâm.

Nội dung cần phân tích: Cảm nghĩ về vầng trăng quá khứ, những thay đổi trong mối quan hệ của nhà thơ với vầng trăng, cảm xúc và suy ngẫm của tác giả.

Bài thơ “Ánh trăng” được Nguyễn Duy sáng tác năm 1978 và được đưa vào tập thơ “Ánh trăng. Tập này đã được tặng giải A của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1984. Thông qua hình tượng nghệ thuật “Ánh trăng” và cảm xúc của nhà thơ, bài thơ đã diễn tả những suy ngẫm sâu sắc về thái độ của con người đối với quá khứ gian lao, tình nghĩa.

Cuộc đời của mỗi con người dù đi đâu về đâu cũng không bao rời xa vầng trăng tình nghĩa. Chỉ có con người có lúc lãng quên trăng, chứ trăng bao giờ cũng ở bên người, sẵn sàng cùng người sẻ chia tâm sự. Chính vì thế, đối với ai trăng cũng sẵn sàng làm tri kỉ. Đối với Nguyễn Duy cũng vậy:

                               “Hồi nhỏ sống với đồng với sông rồi với bể

                               hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành tri kỉ”

Thể thơ năm chữ với nhịp điệu linh hoạt thể hiện sự vận động của không gian – thời gian. Cái hay là bằng hình ảnh không gian (đồng-sông-bể-rừng) diễn tả sự vận động của thời gian: quá trình trưởng thành của tác giả (nhỏ-trưởng thành-đi chiến đấu)… Trong quá trình ấy, kỉ niệm đẹp biết bao con người sống với thiên nhiên, với trăng chan hòa, gắn bó không gì ngăn cách được.

Từ “với” được điệp lại ba lần nhằm diễn tả một thời niên thiếu đi nhiều, được cảm nhận những vẻ đẹp kì thú của thiên nhiên: ngắm trăng trên đồng quê, trên dòng sông, trên bãi bồi. Vì vậy những kỉ niệm thời niên thiếu vui cùng trăng, sống với trăng đã trở thành những ấn tượng khắc sâu trong tâm trí không thể phai mờ. Trưởng thành rồi đi chiến đấu trên những nẻo đường hành quân, phải lặn lội trong rừng sâu núi thẳm, trăng là bạn đồng hành đã chia sẻ ngọt bùi, cùng hân hoan trong niềm vui chiến thắng hoặc cùng ngậm ngùi, bồn chồn với nỗi nhớ nhà, nhớ quê.

Nên trăng là tri kỉ, là nghĩa tình. Khổ thơ thứ hai là tiếng lòng hoài niệm về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên đất nước bình dị, hiền hậu: “Trần trụi với thiên nhiên hồn nhiên như cây cỏ ngỡ không bao giờ quên cái vầng trăng tình nghĩa” Vì tâm hồn người chiến sĩ vô tư hồn nhiên trải lòng ra với thiên nhiên nên không gì ngăn cách được. Con người lúc bấy giờ, cuộc sống lúc bấy giờ chân thật, vô tư, không lọc lừa, không có những toan tính mà sống tự nhiên “hồn nhiên như cây cỏ”, coi thiên nhiên là nhân vật, là con người. Vầng trăng là biểu tượng đẹp của những năm tháng ấy, đã trở thành “vầng trăng tri kỉ”, “vầng trăng tình nghĩa” ngỡ không bao giờ có thể quên. Một ý thơ lay động tâm hồn, như một sự thức tỉnh lương tâm đối với những kẻ vô tình:

                                                 “ngỡ không bao giờ quên”.

Từ “ngỡ” như một điểm nhấn, mang tính dự báo là sẽ quên, trong đó như có lời tác giả tự trách mình… “Từ hồi về thành phố quen với ánh điện của gương vầng trăng đi qua ngõ như vầng trăng qua đường” Ở thành phố đầy đủ tiện nghi vật chất, ở buyn đinh cao ốc, quen với ánh điện cửa gương, hoàn cảnh sống đã thay đổi con người cũng dễ đổi thay, có lúc trở nên vô tình, có kẻ trở thành “ăn ở bạc”.

Cuộc sống hiện tại chói lòa ánh điện đã làm lu mờ ánh sáng hiền dịu của vầng trăng. Trăng được nhân hóa đi qua ngõ mà như người dưng qua đường. Tác giả xây dựng hai hình ảnh đối lập giữa vầng trăng tri kỉ của quá khứ với vầng trăng với vầng trăng “như người dưng qua đường” trong hiện tại. Sự đối lập này diễn tả sự đổi thay trong tình cảm của con người. Trước bao vinh hoa phú quý, người ta có thể phản bội lại chính mình, thay đổi tình cảm với nghĩa tình đã qua. Và đó cũng là một quy luật của cuộc sống tình cảm của con người. Nhà thơ Tố Hữu cũng đã có lần viết:

                                                            “Mình về thành thị xa xôi

                                                      Nhà cao nào thấy núi đồi nữa chăng

                                                            Phố đông còn nhớ bản làng

                                                  Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng?”

Trăng đâu cao xa, trăng gần gũi, thân thương, trăng là nghĩa tình, là tri kỉ, không bao giờ phản bội. chỉ có con người hờ hững với trăng. Nguyễn Duy tự vấn, tự trách mình vô tình, coi trăng như “người dưng qua đường”. Kết cấu của bài thơ có chút kịch tính khi chuyển qua khổ thứ tư gây bất ngờ, đột ngột:

“Thình lình đèn điện tắt phòng buyn đinh tối om vội bật tung cửa sổ đột ngột vầng trăng tròn”

Tình huống mất điện đột ngột trong đêm là chuyện hiếm gặp ở thành phố ta trong những năm tháng ấy (1978) khiến tác giả vốn đã quen với ánh sáng, không thể chịu nổi cảnh tối om nơi phòng buyn-đinh “vội bật tung cửa sổ” rồi “đột ngột vầng trăng tròn”. Các từ “vội”, “bật tung”, “đột ngột” diễn tả trạng thái cảm xúc mạnh mẽ, bất ngờ. Ánh trăng tròn hiện lên giữa bầu trời sừng sững, giữa bầu trời ấy đâu phải khi “đèn điện tắt” mới có? Cũng như những tháng năm quá khứ, vẻ đẹp của đồng, sông, bể, rừng không bao giờ mất đi. Chỉ có điều con người có nhận ra hay không mà thôi.

Và trong cái khoảnh khắc “đột ngột” đối diện với trăng ấy, ân tình xưa “rung rung” sống dậy, thổn thức lòng người:

                                                     “Ngửa mặt lên nhìn mặt

                                                      có cái gì rung rung như

                                                      là đồng là bể

                                                      như là sông là rừng”

Từ “mặt” được dùng với nghĩa gốc và nghĩa chuyển – mặt trăng, mặt người – trăng và người cùng đối diện đàm tâm. Với tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” người đọc cảm nhận sự lặng im, thành kính và trong phút chốc cảm xúc dâng trào khi gặp lại vầng trăng: “có cái gì rưng rưng”. Rưng rưng của những niềm thương nỗi nhớ, của những lãng quên lạnh nhạt với người bạn cố tri; của một lương tri đang thức tỉnh sau những ngày đắm chìm trong cõi u mê mộng mị; rưng rưng của nỗi ân hận ăn năn về thái độ của chính mình trong suốt thời gian qua.

Một chút áy náy, một chút tiếc nuối, một chút xót xa đau lòng, tất cả đã làm nên cái “rưng rưng”,cái thổn thức trong sâu thẳm trái tim người lính. Và trong phút giây nhân vật trữ tình nhìn thẳng vào trăng – biểu tượng đẹp đẽ của một thời xa vắng, nhìn thẳng vào tâm hồn của mình, bao kỉ niệm chợt ùa về chiếm trọn tâm tư. Kí ức về quãng đời ấu thơ trong sáng, về lúc chiến tranh máu lửa, về cái ngày xưa hồn hậu hiện lên rõ dần theo dòng cảm nhận trào dâng, “như là đồng là bể, như là sông là rừng”. Đồng, bể, sông, rừng,những hình ảnh gắn bó nơi khoảng trời kỉ niệm. Cấu trúc song hành của hai câu thơ, nhịp điệu dồn dập cùng biện pháp tu từ so sánh, điệp ngữ và liệt kê như muốn khắc họa rõ hơn kí ức về thời gian gắn bó chan hòa với thiên nhiên, với vầng trăng lớn lao sâu nặng, nghĩa tình, tri kỉ. Chính thứ ánh sáng dung dị đôn hậu đó của trăng đã chiếu tỏ nhiều kỉ niệm thân thương, đánh thức bao tâm tình vốn tưởng chừng ngủ quên trong góc tối tâm hồn người lính. Chất thơ mộc mạc chân thành như vầng trăng hiền hòa, ngôn ngữ hàm súc, giàu tính biểu cảm như “có cái gì rưng rưng”,đoạn thơ đã đánh động tình cảm nơi người đọc. Khổ thơ cuối cùng mang nhiều ý nghĩa đưa tới chiều sâu tư tưởng mang tính triết lý:

                                                        “Trăng cứ tròn vành vạnh

                                                             kể chi người vô tình

                                                       ánh trăng im phăng phắc

                                                             đủ cho ta giật mình”

Hình ảnh “trăng cứ tròn vành vạnh” là tượng trưng cho quá khứ nghĩa tình, thủy chung, đầy đặn, bao dung, nhân hậu. Trăng không trách móc, hờn giận “người vô tình”vì đó là vầng trăng độ lượng, khoan dung, là truyền thống nhân hậu của dân tộc. Hình ảnh “Ánh trăng im phăng phắc” cũng là hình ảnh của lương tâm nghiêm khắc nhắc nhở từ chính sự im lặng của mình về sự thủy chung, gắn bó với quê hương, với thiên nhiên và con người. Chính cái im phăng phắc của vầng trăng đã đánh thức con người, làm xáo động tâm hồn người lính năm xưa.

Con người “giật mình” trước ánh trăng là sự bừng tỉnh của nhân cách, là sự trở về với lương tâm trong sạch, tốt đẹp. Đó là lời ân hận, ăn năn day dứt, làm đẹp con người. Mạch cảm xúc của bài thơ lắng kết trong cái “giật mình” cuối bài thơ. Đây là sự ăn năn tự trách để nhắc nhở mình phải sống có nghĩa tình đừng quên ân tình của quá khứ dù bất kì hoàn cảnh nào. Với giọng điệu tâm tình tự nhiên, hình ảnh giàu tính biểu cảm, “Ánh trăng” nhắc nhở con người về lẽ sống ân tình thủy chung với thiên nhiên đất nước. từ đó, ta thêm trân trọng quá khứ, có thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”. Tố Hữu trong bài thơ Việt Bắc đã từng nhắc đến vầng trăng nghĩa tình, thủy chung ấy. Một sự kiện chính trị đã chuyển hoá thành thơ ca theo cách tâm tình hoá chính là một đặc trưng của lối thơ trữ tình – chính trị của Tố Hữu. Việc “dời đô” (Việt Bắc là thủ đô kháng chiến – Tố Hữu gọi là “Thủ đô gió ngàn”) đã thành câu chuyện ân tình chung thủy của người cách mạng với rừng núi chiến khu, với đồng bào, với quá khứ, với chính mình.Đôi trai gái xưng hô theo lối rất dân gian: Ta – mình. Nỗi băn khoăn lớn nhất của ta và mình trong cuộc chia tay giã bạn là ân tình – chung thuỷ:

                                                       Mình về thành thị xa xôiNhà

                                                      cao, còn thấy núi đồi nữa chăng?

Phố đông, còn nhớ bản làng Sáng đèn, còn nhớ mảnh trăng giữa rừng? Mình đi, ta hỏi thăm chừng Bao giờ Việt Bắc tưng bừng thêm vui “Mình về mình có nhớ ta” đã là chuyện chung thuỷ! Nhưng “mình đi mình có nhớ mình” thì ân tình chung thuỷ đã được đẩy tới một mức thật sâu. Mình đi khỏi Việt Bắc là đi khỏi thời gian khổ, nơi gian khổ, có thể mình quên ta phụ ta. Nhưng mình có nhớ chính mình chăng, có phụ chính mình được chăng? Nơi phố đông, sáng đèn có còn nhớ đến những tháng ngày vất vả, gian lao, nghĩa tình, thủy chung nơi rừng núi? Những câu hỏi thâm thúy ân tình như vậy đã giúp Tố Hữu dân gian hoá, truyền thống hoá một vấn đề của cách mạng, vấn đề của hôm nay. Người ra đi cũng trả lời, cũng ghi lòng tạc dạ với một tinh thần như thế. Thế nhưng, khi đến với bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy, ta bòng “giật mình” hiểu ra, người ra đi năm ấy đã vội quên lời dặn dò của người ở lại năm xưa mất rồi.

Hình ảnh vầng trăng và người lính là hai hình tượng vốn có sự gắn kết bền chặt trong thi ca. Có lẽ, không gian chiến đấu của người lính thường là nơi rừng núi, không gian lặng lẽ, chỉ có trăng là sự vật rực rỡ nhất, gợi nhớ nhất, lặng lẽ đi vào tâm hồn người lính như một nguồn sống bất tận. Trong bài thơ Đồng chí, nhà thơ chính hữu đã có những lời thơ thật hay:

                                                       Đêm nay rừng hoang sương muối

                                                        Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

                                                        Đầu súng trăng treo.

Ba câu thơ vừa mang nét mờ ảo lại mang nét tả thực, có thể nói nó chính là cái táo bạo mới mẻ và nhà thơ khám phá. Đây là bức tranh đẹp về tình đồng chí, là biểu tượng cao cả về cuộc đời người chiến sĩ. Hình ảnh “rừng hoang sương muối” gợi sự khốc liệt, khắc nghiệt đến ghê rợn của thiên nhiên, của chiến tranh. Đối lập với thực tại khắc nghiệt ấy là hình ảnh bầu trời đêm “đầu súng trăng treo” vừa rất thực vừa rất lãng mạn: “Súng” và “trăng” – hai hình ảnh tưởng như đối lập song lại thống nhất hòa quyện – là cứng rắn và dịu êm – là gần và xa – là thực tại và mơ mộng – là chất chiến đấu và chất trữ tình – là chiến sĩ và thi sĩ.

Hiếm thấy một hình tượng nào vừa đẹp,vừa mang đầy đủ ý nghĩa như “Đầu súng trăng treo” của Chính Hữu. Đây là một phát hiện, một sáng tạo bất ngờ về vẻ đẹp bình dị và cao cả trong tâm hồn người chiến sĩ. Khoảng cách giữa bầu trời và mặt đất chưa bao giờ lại gần đến thế nó chỉ cách nhau một chữ “treo” mà thôi. Phải chăng ngoài ý nghĩa lãng mạn nhà thơ còn muốn thể hiện một ý nghĩa sâu xa khác? Đó chính là mong muốn khát vọng về một ngày mai hòa bình và hạnh phúc? Sau đêm nay ngày mai bình minh sẽ ló dạng xua tan đi những cái buốt giá của thời gian và không gian? Có thể nói ba câu thơ cuối cùng của bài thơ như một lời kết nhẹ nhàng và lắng đọng trong tâm trí của người chiến sĩ cũng như độc giả. Nó đã gợi cho người đọc biết bao nhiêu ấn tượng bao nhiêu suy nghĩ đặc sắc. Đó là ánh sáng của tự do, của độc lập mà chúng ta hướng tới trong một tương lai không xa.

Với giọng điệu tâm tình tự nhiên, hình ảnh giàu tính biểu cảm. “Ánh trăng” của Nguyễn Duy như một lời tự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu. Bài thơ ý nghĩa gợi nhắc, củng cố ở người đọc thái độ sống uống nước nhớ nguồn, ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ. Vì vậy, bài thơ dung những lời lẽ, tình đời, tình người vẫn vấn vương cùng người đọc.

Bài văn phân tích bài thơ ánh trăng của nguyễn duy 1
2

Bài văn phân tích bài thơ ánh trăng của nguyễn duy 2

Tên tác phẩm: Ánh trăng

Tác giả: Nguyễn Duy (1948) tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ

Vài nét về tác phẩm: Bài thơ là sự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước rất bình dị, hiền hậu. Qua đó nhắc nhở người đọc phải có một thái độ sống “Uống nước nhớ nguồn”, thủy chung ân tình với quá khứ, nhớ quên là lẽ thường tình, quan trọng là biết thức tỉnh lương tâm.

Nội dung cần phân tích: Cảm nghĩ về vầng trăng quá khứ, những thay đổi trong mối quan hệ của nhà thơ với vầng trăng, cảm xúc và suy ngẫm của tác giả.

Thời xưa cũng như thời nay, thiên nhiên là nguồn cảm hứng sáng tác vô tận cho các nhà văn, nhà thơ, đặc biệt là ánh trăng. Xưa, Lý Bạch khi đối diện với vầng trăng đã giật mình thảng thốt nhớ cố hương. Nay, Nguyễn Duy một nhà thơ tiêu biểu trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ cũng góp vào mảng thơ thiên nhiên một "Ánh trăng". Đối diện trước vầng trăng, người lính đã giật mình về sự vô tình trước thiên nhiên, vô tình với những những kỉ niệm nghĩa tình của một thời đã qua.

Bài thơ "Ánh trăng" giản dị như một niềm ân hận trong tâm sự sâu kín của nhà thơ. Mở đầu bài thơ là hình ảnh vầng trăng tình nghĩa hiền hậu, bình dị, gắn liền với kỉ niệm một thời đã qua, một thời nhà thơ hằng gắn bó:

                                                Hồi nhỏ sống với đồng

                                                với sông rồi với bể

                                              hồi chiến tranh ở rừng

                                             vầng trăng thành tri kỷ

                                            Nhớ đến trăng là nhớ đến không gian bao la.

Những "đồng, sông, bể" gợi một vùng không gian quen thuộc của tuổi ấu thơ, có những lúc sung sướng đến hả hê được chan hòa ngụp lặn trong cái mát lành của quê hương như dòng sữa ngọt. Đến khi vào chiến trường, trăng thành người bạn tri kỉ, gắn bó với những kỉ niệm không thể nào quên của cuộc chiến tranh ác liệt của người lính trong rừng sâu: khi trăng treo trên đầu súng, lúc trăng soi sáng trên đường hành quân. Vầng trăng ấy cũng là "quầng lửa" theo cách gọi của nhà thơ Phạm Tiến Duật. Trăng thành người bạn chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ và những mất mát hi sinh, vầng trăng trở thành người bạn tri kỉ với người lính. Trăng khi đó là ánh sáng trong đêm tối chiến tranh, là niềm vui bầu bạn của người lính trong gian lao của cuộc kháng chiến - vầng trăng tri kỉ. Trần trụi với thiên nhiên hồn nhiên như cây cỏ ngỡ không bao giờ quên cái vầng trăng tình nghĩa Trần trụi và hồn nhiên là một vẻ đẹp bình dị, hiền hòa, vô tư đến lạ thường, không cầu kì, không trang sức. Hình ảnh so sánh đã tô đậm thêm sức quyến rũ đến lạ thường của trăng.

Cái vầng trăng mộc mạc và giản dị đó là tâm hồn của những người nhà quê, của đồng, của sông của bể và của những người lính chân chất. Chính vẻ đẹp ấy đã khiến nhân vật trữ tình phải thốt lên "ngỡ không bao giờ quên / cái vầng trăng tình nghĩa". Câu thơ như một lời thề thiêng liêng giữa rừng sâu nước độc. Hai tiếng nghĩa tình vang lên khiến cho ranh giới giữa con người với trăng tưởng chừng như mãi bền vững. Thế nhưng từ hồi về thành phố, tình cảm của con người đã thay đổi. Vầng trăng tri kỉ ngày nào nay đã trở thành người dưng, người khách qua đường xa lạ không quen biết.

Còn con người đâu còn son sắt thủy chung. Một sự thay đổi phũ phàng khiến người ta không khỏi nhói đau, tình cảm xưa nay chia lìa. Nguyễn Duy đã diễn tả được cái đổi thay của lòng người. Nghệ thuật nhân hóa so sánh làm cho lời thơ trở thành lời tự thú chân thành của tác giả. Tác giả là người dũng cảm, dám đối diện với chính mình. Và lời thơ thực sự nhức nhối, xót xa bởi sự phản bội ở đây không chỉ với lịch sử, với thiên nhiên mà còn là sự phản bội chính bản thân mình. Trong sâu thẳm cõi lòng mình, hình như tác giả đã hoàn toàn quên đi vầng trăng hay nói cách khác là trong trái tim đủ đầy của nhà thơ không còn chỗ cho vầng trăng dù chỉ là một phần nhỏ nhất. Ý thơ trở nên trầm lặng, suy tư.

Cuộc sống hiện tại với đầy đủ tiện nghi có thể coi là ước mơ của bao người. Ước mơ ấy nay đã trở thành hiện thực nhưng cái đáng mừng kia đôi khi phải trả giá đánh đổi bằng một cái mất. Khổ thơ như lan tỏa một cảm giác buồn nhẹ nhàng, thấm thía. Tưởng chừng như trăng cứ thế mà chìm khuất đi mãi mãi, người với trăng sẽ chẳng còn cơ hội mà gặp gỡ nhau. Bởi trước phồn hoa đô hội, dưới ánh sáng cửa gương, đèn điện, dưới sự bận bịu, lo toan cho cuộc sống của con người thì trăng sẽ trở nên nhạt nhòa, chìm khuất nhưng nó đã có dịp bừng sáng lên khi một tình huống bất ngờ xảy đến, để rồi đánh thức biết bao nhiêu là suy ngẫm, kỉ niệm dội về trong lòng thi nhân: Thình lình đèn điện tắt phòng buyn-đinh tối om vội bật tung cửa sổ đột ngột vầng trăng tròn Nếu ở các khổ thơ trước, giọng thơ đều đều, chậm dãi, miên man trong những kỉ niệm tươi đẹp của quá khứ thì đến khổ bốn, giọng thơ đã đột ngột cất cao, thể hiện sự choáng ngợp, bất ngờ trước sự xuất hiện đột ngột của vầng trăng trước khung của sổ. Mất điện, theo một lẽ tự nhiên khi con người chỉ tìm tới nơi có ánh sáng, hành động phản xạ như một thói quen “bật tung cửa sổ” và con người đã vô tình bắt gặp “vầng trăng tròn” tình nghĩa năm nào. Nghệ thuật đảo ngữ đã đẩy từ “đột ngột” lên đầu câu thơ, nhấn mạnh đến sự ngỡ ngàng, ngạc nhiên, bàng hoàng của con người khi bắt gặp vầng trăng. Vầng trăng tròn vành vạnh, chan chứa tình nghĩa vẫn luôn dõi theo, đồng hành cùng con người, vẫn luôn lặng lẽ tỏa sáng không hề hao khuyết. Còn con người thì lãng quên vầng trăng nên khi bắt gặp vầng trăng mới cảm thấy bất ngờ, đột ngột đến như vậy. Loay hoay trong gian phòng tối ấy để rồi trào lên bao suy tư, trăn trở:

                                                       Ngửa mặt lên nhìn mặt

                                                       Có cái gì rưng rưng

                                                       Như là đồng là bể

                                                      Như là sông là rừng

Nghệ thuật nhân hóa, so sánh, từ láy, điệp ngữ đã diễn tả vầng trăng tít tắp trên trời cao đang đăm đắm nhìn xuống con người nơi mặt đất để gợi nhớ. Kỉ niệm xưa ào ạt nhìn về, vẹn nguyên trong sáng khiến cho con người xúc động rưng rưng. Nhân vật trữ tình lặng lẽ đối diện với vầng trăng - người bạn trữ tình mà mình lãng quên. Trăng đối diện với con người, quá khứ đối diện với hiện tại, thủy chung, tình nghĩa đối diện với bạc bẽo, vô tình và vô tình khoảnh khắc khắc ấy khiến nhà thơ hổ thẹn, ân hận về sự thay đổi của mình.

Nhân vật trữ tình rưng rưng muốn khóc, anh ngơ ngác nhìn trăng, soi lòng mình vào trăng để nhận ra mình đã sai. Do vậy tâm hồn anh sẽ không thể nào tĩnh lặng:

                                                      Trăng cứ tròn vành vạnh

                                                       Kể chi người vô tình

                                                      Vầng trăng im phăng phắc

                                                       Đủ cho ta giật mình

Trăng "tròn vành vạnh" là một vẻ đẹp viên mãn, "im phăng phắc" là im như tờ không một tiếng động nhỏ. Khổ thơ kết lại bài thơ bằng hai vế độc lập mà song song. Đối lập giữa sự đầy đặn của vầng trăng với cái hụt vơi của kẻ vô tình. Đối lập giữa cái im lặng của vầng trăng và sự thức tỉnh của con người. Cái sự giật mình thức tỉnh được diễn tả thật đáng quí vì khi ta giật mình thức tỉnh tức là đã nhận ra sự bạc bẽo của mình, nhận ra sai lầm của mình với quá khứ. Đó là thái độ ăn năn hối hận tự nhắc lòng mình hãy ngưng lại nhịp sống hối hả để tìm lại chính mình, tìm lại những gì đã mất, đã lãng quên. Đó là sự thức tỉnh đầy nhân bản để tâm hồn con người trở về trong trẻo, thánh thiện như xưa. Nguyễn Duy đã thảng thốt lo âu trước sự thay đổi của con người khi chiến tranh đi qua, thế nhưng ông không mất niềm tin vào nhân cách của con người, giá trị tốt đẹp của cuộc sống. Có lần ông đã khẳng định "Cái tâm hồn nguồn cội của dân tộc Việt luôn chan chứa những giá trị nhân văn cao cả nhất. Con người có thể bị lãng quên, có thể chối bỏ những điều đó trong tâm hồn cá nhân anh ta. Thế nhưng dù anh ta có làm bất cứ điều gì đi nữa thì những giá trị văn hóa thuần khiết nhất của dân tộc vẫn vậy, bao bọc, che chở an ủi anh ta một cách vô hình.

Đó chính là những nét nhân văn nhất của tinh thần Việt". Ở đây trăng độ lượng bao dung. Phải chăng trăng tượng trưng cho sự cao quý của nhân dân tượng trưng cho vẻ đẹp gian lao sâu nặng nghĩa tình của tổ quốc. Trăng tượng trưng cho vẻ đẹp của tình bạn, tình chiến đấu không thể nào quên. Qua hình tượng ánh trăng nhà thơ nhắc nhở chúng ta rằng phải biết sống ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ và đó chính là truyền thống uống nước nhớ nguồn tốt đẹp của dân tộc ta.

"Ánh trăng" - hành trình về sự thức tỉnh hoàn thiện mình. Dù thời gian trôi đi, cuộc sống còn đổi thay nhưng những giá trị tinh thần, những tư tưởng đạo lý sẽ không thay đổi, sẽ còn mãi với thời gian bởi đó là một nét đẹp của người Việt, của dân tộc Việt. Chính vì thế mà Lương Kim Phương khi bình luận về bài thơ này đã khẳng định:"Bài thơ giống như một câu chuyện giàu chất thơ, đầy hiện thực cuộc sống. Tuy bài thơ không một chút đao to búa lớn mà sao khi đọc ta thấy như có ai đang quất vào mình đau đớn".

Bài văn phân tích bài thơ ánh trăng của nguyễn duy 2
3

Bài văn phân tích bài thơ ánh trăng của nguyễn duy 3

Tên tác phẩm: Ánh trăng

Tác giả: Nguyễn Duy (1948) tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ

Vài nét về tác phẩm: Bài thơ là sự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước rất bình dị, hiền hậu. Qua đó nhắc nhở người đọc phải có một thái độ sống “Uống nước nhớ nguồn”, thủy chung ân tình với quá khứ, nhớ quên là lẽ thường tình, quan trọng là biết thức tỉnh lương tâm.

Nội dung cần phân tích: Cảm nghĩ về vầng trăng quá khứ, những thay đổi trong mối quan hệ của nhà thơ với vầng trăng, cảm xúc và suy ngẫm của tác giả.

"Cát trắng" và "Ánh trăng" là hai tập thơ của Nguyễn Duy, nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Một hồn thơ tươi trẻ tỏa mát bóng tre, như con sóng vỗ dòng sông thơ ấu phảng phất hương vị đồng quê:

                                                          “Thuở nhỏ tôi ra cống

                                                            Na câu cá

                                                            Níu váy bà đi chợ

                                                           Bình Lâm Bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

                                                          Và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần".

(Đò Lèn) "Tre Việt Nam”, “Hơi ấm ổ rơm", "Ánh trăng", "Đò Lèn"... là những bài thơ nổi tiếng của Nguyễn Duy. Bài thơ "Ánh trăng" rút trong tập thơ cùng tên, được tác giả viết vào năm 1978, tại Thành phố Hồ Chí Minh, 3 năm sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Bài thơ như một lời tâm sự chân thành: Vầng trăng không chỉ là vẻ đẹp thiên nhiên đất nước mà nó còn gắn bó với tuổi thơ, với những ngày kháng chiến gian khổ. Vầng trăng đối với mỗi chúng ta không bao giờ có thể quên và đừng cố tình lãng quên.

Nếu như trong bài thơ "Tre Việt Nam" câu thơ lục bát có khi được tách ra thành hai hoặc ba dòng thơ để tạo nên hiệu quả nghệ thuật biểu đạt gây ấn tượng thì ở bài thơ "Ánh trăng" này lại có một nét mới. Chữ đầu của dòng thơ, câu thơ không viết hoa. Phải chăng nhà thơ muốn cho cảm xúc được dào dạt trôi theo dòng chảy của thời gian, kỉ niệm? Hai khổ thơ đầu nói về vầng trăng của tuổi thơ và vầng trăng thời chiến tranh. Vầng trăng tuổi thơ trải rộng trên một không gian bao la:

                                                            "Hồi nhỏ sống với đồng

                                                             với sông rồi với bể".

Hai câu thơ 10 tiếng, gieo vần lưng (đồng - sông); từ "với" được điệp lại 3 lần nhằm diễn tả một tuổi thơ đi nhiều, được hạnh phúc cảm nhận những vẻ đẹp kì thủ của thiên nhiên, từng được ngắm trăng trên đồng quê, ngắm trăng trên dòng sông và ngắm trăng trên bãi bể. Tuổi thơ của chúng ta dễ có mấy ai được cái cơ ấy như nhà thơ? Thuở bé nhà thơ Trần Đăng Khoa cũng chỉ được ngắm trăng nơi sân nhà:

“Ông trăng tròn sáng tỏ - Soi rõ sân nhà em... (Trăng sáng sân nhà em).

Tuổi thơ được ngắm trăng thích thế, như một chút hoài niệm xa vời. Hai câu thơ tiếp theo nói về hồi máu lửa, trăng với người lính, trăng đã thành "tri kỉ":

                                           "hồi chiến tranh ở rừng

                                            vầng trăng thành tri kỉ."

"Tri kỉ”: biết người như biết mình, bạn tri kỉ là người bạn rất thân, hiểu biết mình. Trăng với người lính, với nhà thơ trong những năm ở rừng thời chiến tranh đã trở thành đôi bạn tri kỉ - "Người chiến sĩ nằm ngủ dưới trăng / Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm” (Hồ Chí Minh). Giữa rừng khuya sương muối, người chiến sĩ đứng chờ giặc tới "Đầu súng trăng treo" (Chính Hữu). Nẻo đường hành quân của người chiến sĩ nhiều đêm đã trở thành "nẻo đường trăng dát vàng". Trăng đã chia sẻ ngọt bùi hân hoan trong niềm vui thắng trận với người lính tiền phương. Đất nước trải qua những năm dài máu lửa, trăng với anh bộ đội đã vượt lên mọi tàn phá hủy diệt của bom đạn quân thù: “Và vầng trăng, vầng trăng Đất nước Vượt qua quầng lửa, mọc lên cao". (Phạm Tiến Duật) Các tao nhân xưa thường "đăng lâu vọng nguyệt", còn anh bộ đội cụ Hồ một thời trận mạc đã nhiều phen đứng trên đồi cao, hành quân vượt núi cũng say sưa ngắm vành trăng cao nguyên.

Thật là thú vị khi đọc vần thơ Nguyễn Duy vì nó đã mở ra trong lòng nhiều người một trường liên tưởng: "hồi chiến tranh ở rừng - vầng trăng thành tri kỉ". Khổ thơ thứ hai như một lời nhắc nhở của tác giả về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu. Lại một vần lưng nữa xuất hiện - một ẩn dụ so sánh làm nổi bật chất trần trụi, chất hồn nhiên người lính những năm tháng ở rừng. Đó là cốt cách của các anh:

                                                        "Trần trụi với thiên nhiên

                                                         Hồn nhiên như cây cỏ”

Vầng trăng là biểu tượng đẹp của những năm tháng ấy, đã trở thành "vầng trăng tri kỉ", "vầng trăng tình nghĩa” ngỡ như không bao giờ có thể quên. Một ý thơ làm động đến đáy tâm hồn, như một sự thức tỉnh lương tâm đối với những kẻ vô tình: "Ngỡ không bao giờ quên - Cái vầng trăng tình nghĩa”. Sự thay đổi của lòng người thật đáng sợ. Hoàn cảnh sống đổi thay, con người dễ thay đổi, có lúc dễ trở nên vô tình, có kẻ dễ trở thành “ăn ở bạc".

Từ ở rừng, sau chiến thắng về thành phố, được trưng diện và xài sang: ở buyn-đinh, cao ốc, quen ánh điện, cửa gương... Và “vầng trăng tri kỉ", "vầng trăng tình nghĩa” đã bị người lãng quên, dửng dưng. Cách so sánh thấm thía làm chột dạ nhiều người: "Từ hồi về thành phố quen ánh điện cửa gương vầng trăng đi qua ngõ như người dưng qua đường." Trăng được nhân hóa, lặng lẽ đi qua đường, trăng như người dưng đi qua, chẳng còn ai nhớ, chẳng còn ai hay. Người có lương tâm, lương tri mới biết sám hối. Biết sám hối để tự hoàn thiện nhân cách, tự vươn lên, hướng tâm hồn về ánh sáng và cái cao cả. Không đao to búa lớn, không đại ngôn, mà trái lại, giọng thơ thầm thì như trò chuyện, giãi bày tâm sự, nhà thơ đang trò chuyện với mình. Chất trữ tình của thơ ca trở nên sâu lắng, chân thành. Cũng như dòng sông có thác ghềnh, có quanh co, uốn khúc. Cuộc đời cũng có nhiều biến động li kì. Ghi lại một tình huống "cuộc sống thị thành" của những con người mới ở rừng về thành phố, nhà thơ chỉ sử dụng 4 câu thơ 20 từ. Các từ “thình lình", "vội", "đột ngột” gợi tả tình thái đầy biểu cảm. Có nhà triết học nói: "Cuộc đời dạy ta nhiều hơn trang sách".

Vần thơ của Nguyễn Duy nói với ta rất nhiều: "Thình lình đèn điện tắt phòng buyn đinh tối om vội bật tung cửa sổ đột ngột vầng trăng tròn.” Trăng xưa đã đến với người, vẫn "tròn", vẫn "đẹp", vẫn thủy chung với mọi người, mọi nhà, với thi nhân, với người lính. Người ngắm trăng rồi suy ngẫm trong bâng khuâng: "Ngửa mặt lên nhìn mặt có cái gì rưng rưng như là đồng, là bể như là sông là rừng". Nguyễn Tuân từng coi trăng là "cố nhân", nhà thơ Xuân Diệu, trong bài "Nguyệt cầm" viết cách đây 60 năm cũng có câu:

                                       "Trăng thương, trăng hở, lời trăng gần".

Trở lại với tâm trạng người lính trong bài thơ này, một cái nhìn đầy áy náy xót xa: "Ngửa mặt lên nhìn mặt". Hai chữ "mặt" trong vần thơ: mặt trăng và mặt người cùng "đối diện đàm tâm". Trăng chẳng nói, trăng chẳng trách, thế mà người lính cảm thấy có cái gì rưng rưng. “Rưng rưng" nghĩa là vì xúc động, nước mắt đang ứa ra, sắp khóc. Giọt nước mắt làm cho lòng người thanh thản lại, trong sáng lại, cái tốt lành hé lộ. Bao kỉ niệm đẹp một đời người ùa về, tâm hồn gắn bó, chan hòa với thiên nhiên, với vầng trăng xưa, với đồng, với bể, với sông, với rừng, với quê hương đất nước. Cấu trúc câu thơ song hành, với biện pháp tu từ so sánh, với điệp từ là cho thấy ngòi bút của Nguyễn Duy thật tài hoa:... "như là đồng, là bể, như là sông, là rừng". Đoạn thơ hay ở chất thơ bộc bạch chân thành, ở tính biểu cảm, ở tính hình tượng và hàm súc, từ ngôn ngữ hình ảnh đi vào lòng người, khắc sâu điều nhà thơ muốn tâm sự với chúng ta một cách nhẹ nhàng mà thấm thía. Khổ thơ cuối bài thơ mang tính hàm nghĩa độc đáo, đưa tới chiều sâu tư tưởng triết lí:

                                              "Trăng cứ tròn vành vạnh

                                               kể chi người vô tình

                                               ánh trăng im phăng phắc

                                              đủ cho ta giật mình"

"Tròn vành vạnh" là trăng rằm, một vẻ đẹp viên mãn, "im phăng phắc” là im như tờ, không một tiếng động nhỏ. Vầng trăng cứ tròn đầy và lặng lẽ "kể chi người vô tình” là biểu tượng của sự bao dung độ lượng, của nghĩa tình thủy chung trọn vẹn trong sáng mà không hề đòi hỏi đền đáp. Đó cũng chính là phẩm chất cao cả của nhân dân mà Nguyễn Duy cũng như nhiều nhà thơ cùng thời đã phát hiện và cảm nhận một cách sâu sắc trong thời kì chiến tranh chống Mĩ.

"Ánh trăng" là một bài thơ hay, thể thơ năm chữ đã được vận dụng sáng tạo, tài hoa. Sự phong phú vần điệu, ngôn ngữ trong sáng, giọng thơ tâm tình vừa hướng nội vừa hướng ngoại. Nhà thơ tâm sự với người đọc những sâu kín nhất nơi lòng mình. Chất triết lí thâm trầm được diễn tả qua hình tượng “ánh trăng" đã tạo nên giá trị tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ. Không nên sống vô tình. Phải thủy chung trọn vẹn, phải nghĩa tình sắt son với bạn bè, đồng chí, với nhân dân đó là điều mà Nguyễn Duy nói thật hay, thật cảm động qua bài thơ này.

Bài văn phân tích bài thơ ánh trăng của nguyễn duy 3
4

Bài văn phân tích bài thơ ánh trăng của nguyễn duy 4

Tên tác phẩm: Ánh trăng

Tác giả: Nguyễn Duy (1948) tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ

Vài nét về tác phẩm: Bài thơ là sự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước rất bình dị, hiền hậu. Qua đó nhắc nhở người đọc phải có một thái độ sống “Uống nước nhớ nguồn”, thủy chung ân tình với quá khứ, nhớ quên là lẽ thường tình, quan trọng là biết thức tỉnh lương tâm.

Nội dung cần phân tích: Cảm nghĩ về vầng trăng quá khứ, những thay đổi trong mối quan hệ của nhà thơ với vầng trăng, cảm xúc và suy ngẫm của tác giả.

Nhà văn Nguyễn Tuân có lần từng nói: “Thơ là mở ra một cái gì mà trước câu thơ trước bài thơ ấy dường như vẫn còn bị phong kín” vì vậy mỗi một sáng tác thơ ca đều phải mở ra một điều gì đấy mới mẻ về tư tưởng về nội dung về nghệ thuật trong tâm trí của người đọc. Nếu Lí Bạch đã từng nâng chén cùng với trăng sáng trên cao để thấm thía nỗi cô đơn mình với bóng là ba, nếu Nguyễn Du đã để vầng trăng là nhân chứng cho mối lương duyên của Thúy Kiều – Kim Trọng, thì chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng coi trăng như một người bạn tri kỷ, thân thiết “Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”. Cũng viết về vầng trăng, hình tượng vốn bấy lâu đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận của thi ca, nhưng bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy vẫn khơi gợi trong tâm

Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1948, ông là một nhà thơ chiến sĩ, đã từng tham gia phục vụ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Sáng tác tiêu biểu là tập thơ Ánh trăng, một trong những tập thơ đánh dấu son quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Duy. Ánh trăng được sáng tác ở thành phố Hồ Chí Minh, vào năm 1978, ba năm sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.

Người lính chiến từ giã chiến trường trở về giữa phố thị, sống trong cảnh hòa bình, đất nước đổi mới, trong lúc đó dường như sự đủ đầy vật chất, cuộc sống bộn bề đã khiến con người ta vô tình quên đi những năm tháng gian khổ nhưng ân tình thủy chung. Để khi yên tĩnh dưới ánh trăng, nhà thơ mới bừng tỉnh nhận ra…

Trong 2 khổ thơ đầu mạch cảm xúc của Nguyễn Duy hướng về những kỷ niệm trong quá khứ, sự gắn bó của của vầng trăng trong từng bước đi của cuộc đời nhà thơ.

                                          “Hồi nhỏ sống với đồng

                                           với sông rồi với biển

                                           hồi chiến tranh ở rừng

                                           vầng trăng thành tri kỷ”.

Ngay từ khổ thơ đầu thì nhà thơ đã mở ra trong một dòng hoài niệm hết sức tha thiết về tuổi ấu thơ của chính mình bằng nhịp thơ đều đặn, với những câu thơ 5 chữ ngắn gọn, đầy cảm xúc. Đó là lời của một người lính từng đi qua chiến tranh gian khổ này về sống giữa Sài Gòn xa hoa, người lính ấy hồi tưởng về tuổi thơ, về thời trai tráng chinh chiến sa trường. Nếu lúc nhỏ cuộc đời của cậu bé Nguyễn Duy gắn bó mật thiết với đồng ruộng, với dòng sông tươi mát, với vùng biển bao la, thì khi lớn lên vào cuộc chiến, cuộc sống của nhà thơ lại tiếp tục gắn bó sâu sắc với thiên nhiên núi rừng, như Tố Hữu nói trong Việt Bắc

                                                       “Rừng che bộ đội

                                                        rừng vây quân thù”.

Thế nhưng dẫu hoàn cảnh, điều kiện sống có đổi thay thì duy chỉ có một thứ chẳng hề thay đổi ấy là vầng trăng trên cao, vầng trăng ấy trong lòng của tác giả đã trở thành tri âm, tri kỷ, là người bầu bạn trong những năm tháng hoa niên, trong từng bước hành quân chiến đấu. Trăng chia sẻ những nỗi vui buồn, những niềm gian khó, đi đến đâu trăng theo đến ấy, thân thương, gần gũi vô cùng. Sự gắn bó, mối quan hệ và tình cảm của nhà thơ và vầng trăng được làm rõ qua mấy câu thơ.

                                                    “Trần trụi với thiên nhiên

                                                      hồn nhiên như cây cỏ

                                                     ngỡ không bao giờ quên

                                                    cái vầng trăng tình nghĩa”

Cuộc sống của tác giả, từ khi còn thơ ấu đến tuổi thanh niên vào chiến trường vẫn luôn gắn bó mật thiết và “trần trụi” với thiên nhiên, không che giấu bất kỳ điều gì, tác giả sống một cách đơn giản, bình yên và hồn nhiên như những loài cây cỏ với sức sống mạnh mẽ dẻo dai. Trên trời có ánh trăng sáng lúc nào cũng dõi mắt theo cuộc sống vui vẻ ấy của nhà thơ, thân thuộc đến độ Nguyễn Duy cứ “ngỡ”, cứ đinh ninh chắc nịch rằng bản thân mình sẽ chẳng bao giờ quên cái vầng trăng tình nghĩa, vằng vặc trên cao mà mình vẫn xem là tri kỷ suốt mấy mươi năm cuộc đời kia.

                                                         “Từ hồi về thành phố

                                                          quen ánh điện cửa gương

                                                          vầng trăng đi qua ngõ

                                                          như người dưng qua đường”

Thế nhưng những cái “ngỡ” thường khó có thể duy trì vì cuộc đời vốn biến đổi không ngừng, bởi vật chất xưa nay luôn quyết định ý thức. Rời chiến trường, rời quê hương với những đồng ruộng, sông bể quê mùa, nhà thơ vào giữa phố thị, được sống trong một cuộc sống dư dả, xa hoa. Nếu buổi trước kia phải vật vạ, mai phục nơi rừng sâu rậm rạp, phải chân lấm tay bùn với ánh đèn dầu mờ ảo thì nay cuộc sống đã đổi thay, “ánh điện cửa gương”, đều là những thứ mới mẻ, dễ khiến người ta ham thích và sống sung sướng mãi rồi cũng quen đi. Bất chợt nhà thơ chẳng biết từ lúc nào đã quên khuấy đi cái ánh sáng nhàn nhạt dịu nhẹ đến từ thiên nhiên, đến từ vầng trăng mà mình vẫn hằng coi là tri kỷ.

Không biết là do cuộc sống quá tất bật, bộn bề, hay lòng người vô tâm, bỏ quên kỷ niệm son sắt xưa cũ mà nay thấy vầng trăng ngự trên trời, cũng chẳng còn trân quý, chỉ là “người dưng qua đường”. Nói đến đây bỗng thấy thật xót xa, buồn tủi cho vầng trăng kia quá, từng một thời sát cánh, chia sẻ vui buồn từ đồng quê đến rừng già, từ ấu thơ đến trưởng thành, ấy mà chỉ vài năm ngắn ngủi, vài ánh điện lạ lẫm mọi thứ đã đổi thay.

                                                              “Thình lình đèn điện

                                                                tắt phòng buyn-đinh

                                                                tối om vội bật tung cửa

                                                                sổ đột ngột vầng trăng tròn”

Giữa sự trớ trêu và buồn tủi như thế, bỗng một tình huống bất ngờ xảy đến – mất điện, căn phòng tối om, khiến người lính vốn quen với ánh điện sáng trưng sửng sốt và hoang mang. Ông buộc phải tìm một nguồn sáng khác, cánh cửa mở ra, vầng trăng tròn “đột ngột” chiếu thẳng vào căn phòng tăm tối, chiếu thẳng vào tâm hồn của nhà thơ khiến ông giật mình.

                                                       “Ngửa mặt lên nhìn mặt

                                                         có cái gì rưng rưng

                                                         như là đồng là bể

                                                         như là sông là rừng”

Vầng trăng và nhà thơ dường như đối diện với nhau một cách trực tiếp và thẳng thắn nhất, mặt đối mặt, bao kỷ niệm ùa về ùa về trong tâm trí của tác giả như bão tố khiến đôi mắt này “rưng rưng” nước mắt, nào là vầng trăng tri kỷ vẫn một lòng một dạ sắt son giữa trời xanh, xa hơn nữa là hình ảnh cánh đồng, bờ biển thuở ấu thơ, con sông xanh mát. Và có lẽ nhớ nhất chính là hình ảnh cánh rừng, hình ảnh những năm tháng chiến đấu đầy gian khổ nhưng giàu những kỷ niệm không thể nào quên. Mà chỉ duy nhất một vầng trăng tri kỷ, vẫn bầu bạn, vẫn sẻ chia, vẫn dõi theo bước chân người lính chiến không rời.

                                                  “Trăng cứ tròn vành vạnh

                                                   kể chi người vô tình

                                                   ánh trăng im phăng phắc

                                                  đủ cho ta giật mình”

Đối diện với trăng, nhà thơ dường như bị lép vế, bởi sự xấu hổ vì lỗi lầm vô tâm, nỡ bỏ quên những ân tình trong quá khứ, để chạy theo cuộc sống xô bồ tấp nập, theo “ánh điện cửa gương”, tách biệt với thiên nhiên, quên cả tri kỷ mà người đã từng “ngỡ không bao giờ quên”. Trăng không hờn trách, không chỉ trích, trăng vẫn im lặng soi sáng, phủ lên nhà thơ thứ ánh sáng đẹp đẽ và nhân hậu. Điều ấy càng khiến con người ta thêm “giật mình”, thêm ngỡ ngàng, thậm chí là bàng hoàng về bản thân, sự im lặng đôi lúc chính là liều thuốc hữu hiệu, khiến chúng ta phải tự soi xét lại.

Sự bao dung, dịu dàng và thủy chung của vầng trăng khiến nhà thơ hiểu ra được nhiều điều, có lẽ cái “giật mình” ấy chính là sự tỉnh ngộ. Tỉnh ngộ để tìm lại bản thân, để sống tốt hơn, để nhớ lại và trân quý những gì tốt đẹp trong quá khứ, để không sống vô tình, vô nghĩa, vầng trăng chính là một tấm gương sáng về lòng thủy chung của người tri kỷ, để người lính soi vào và suy ngẫm lại về bản thân mình suốt những năm qua đã sống thực sự nhân nghĩa hay chưa. Vầng trăng xưa nay vốn đã rất quen thuộc với con người, trăng chiếu rọi xuống những ánh sáng nhàn nhạt, dịu nhẹ như người bạn, người thân, người tri kỷ sẵn sàng sẻ chia, ôm ấp và đồng hành với con người trên mọi nẻo đường.

Ánh trăng của Nguyễn Duy là một bài thơ dẫu câu từ có vẻ đơn giản, mộc mạc nhưng lại hàm súc những ý nghĩa lớn, ấy là bài học về sự ghi nhớ những ân tình trong quá khứ, là lời khuyên, là tấm gương về lối sống nhân nghĩa, luôn trân quý, biết ơn những người, những cảnh vật xưa cũ. Bởi dù đó có là những điều quá vãng, nhưng mãi luôn là những giá trị quan trọng xây dựng nên một tâm hồn, một cuộc đời, dễ dàng lãng quên đồng nghĩa với việc vô tâm, vô cảm với cuộc đời.

Bài văn phân tích bài thơ ánh trăng của nguyễn duy 4
5

Bài văn phân tích bài thơ ánh trăng của nguyễn duy 5

Tên tác phẩm: Ánh trăng

Tác giả: Nguyễn Duy (1948) tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ

Vài nét về tác phẩm: Bài thơ là sự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước rất bình dị, hiền hậu. Qua đó nhắc nhở người đọc phải có một thái độ sống “Uống nước nhớ nguồn”, thủy chung ân tình với quá khứ, nhớ quên là lẽ thường tình, quan trọng là biết thức tỉnh lương tâm.

Nội dung cần phân tích: Cảm nghĩ về vầng trăng quá khứ, những thay đổi trong mối quan hệ của nhà thơ với vầng trăng, cảm xúc và suy ngẫm của tác giả.

Nguyễn Duy thuộc thế hệ nhà thơ quân đội trưởng thành trong cuộc kháng chiến chông Mĩ cứu nước đau thương và oanh liệt của dân tộc. Bài thơ Ánh trăng được viết tại thành phố Hồ Chí Minh năm 1978, ba năm sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong cuộc sống hòa bình, một số người đã từng trải qua thử thách, gian khổ, từng chứng kiến sự hi sinh lớn lao của đồng đội và nhân dân, từng gắn bó sâu nặng với thiên nhiên nhưng đã vội quên những gian nan, cơ cực và những kỉ niệm thắm thiết nghĩa tình của một thời chưa xa. Bài thơ là một lần “giật mình” nhìn lại của Nguyễn Duy. Nó có tác dụng thức tỉnh bao người trước cái điều vô tình ấy.

Ánh trăng trước hết là tiếng lòng, là sự tự vấn lương tâm của riêng Nguyễn Duy. Nhà thơ đứng giữa hôm nay mà suy ngẫm về thời đã qua và từ tâm trạng riêng, tiếng thơ ông cất lên như một lời nhắc nhở. Vầng trăng ở đây không chỉ là một hình ảnh cụ thể của đất trời mà còn là biểu tượng cho một quá khứ đẹp đẽ, là mối liên hệ giữa tâm tình riêng và ý nghĩa phổ biến rộng lớn, giữa nội dung cụ thể và tính khái quát của bài thơ.

Bài thơ không chỉ đề cập đến thái độ thờ ơ, quay lưng đối với những hi sinh, mất mát của thời chiến tranh mà còn là chuyện nghĩa tình, nhớ về cội nguồn, nhớ về những người đã khuất. Cao hơn nữa, Ánh trăng còn là lời nhắc nhở mỗi con người về lẽ sống chung thủy với chính mình. Sự kết hợp khéo léo giữa tự sự với trữ tình đã tạo cho bài thơ dáng dấp của một câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự thời gian. Giọng điệu tâm tình được thể hiện bằng thể thơ năm chữ. Hai khổ thơ đầu là cảm xúc của nhà thơ về ánh trăng khi chiến đấu trong rừng. Khổ thứ ba là cảm xúc trước vầng trăng trong thành phố hoà bình. Nhịp thơ ở phần này tự nhiên, nhịp nhàng.

Đến khổ thứ tư, giọng thơ thay đổi, thể hiện thái độ ngạc nhiên đến ngỡ ngàng của tác giả trước sự xuất hiện đột ngột của vầng trăng trong đêm mất điện. Giọng thơ trầm lắng, thiết tha ở hai khổ cuối rất hợp với sự hồi tưởng và suy tư lặng lẽ. Dòng cảm xúc trữ tình của nhà thơ cũng tuôn chảy theo những lời tự sự. Nhà thơ kể rằng:

                                                   Hồi nhỏ sống với đồng,

                                                   Với sông rồi với bể;

                                                   Hồi chiến tranh ở rừng,

                                                  Vầng trăng thành tri kỉ.

Nhà thơ tưởng không bao giờ quên cái vầng trăng tình nghĩa ấy. Thế mà từ hồi về thành phố ăn sung mặc sướng, quen sống giữa những tiện nghi hiện đại, mới chỉ có mấy năm mà đã nhìn vầng trăng tình nghĩa như người dưng qua đường. Sự việc bất thường ở khổ thơ thứ tư chính là tác nhân gợi nhớ để từ đó tác giả bộc lộ cảm xúc của mình:

                                                     Thình lình đèn điện tắt,

                                                     Phòng buyn-đinh tối om,

                                                     Vội bật tung cửa sổ,

                                                     Đột ngột vầng trăng tròn.

Ánh trăng toả sáng căn phòng. Chính vầng trăng xuất hiện bất ngờ trong bối cảnh ấy đã gây ấn tượng mạnh, thổi bùng nỗi nhớ về một thời máu lửa chưa xa. Vầng trăng là hình ảnh của thiên nhiên tươi mát, là người bạn tri kí của nhà thơ suốt thời tuổi nhỏ và thời chiến tranh. Trong phút chốc, sự xuất hiện đột ngột của vầng trăng giữa thành phố làm sống dậy tâm trí nhà thơ bao kỉ niệm ấm áp nghĩa tình của những năm tháng gian nan mà hào hùng. Hiển hiện rõ ràng trong tâm tưởng của một con người đang sống giữa phố phường hiện đại là những khung cảnh thân thương gắn liền với hình ảnh vầng trăng trong quá khứ. Tuy nhà thơ không khóc nhưng nỗi nhớ cứ rưng rức ở trong lòng.

                                                     Ngửa mặt nhìn lên mặt,

                                                    Có cái gì rưng rưng,

                                                    Như là đồng là bể,

                                                   Như là sông là rừng.

Vầng trăng không chỉ là vẻ đẹp bình dị và vĩnh hằng của thiên nhiên mà cao hơn thế, nó là biểu tượng của tinh thần lạc quan trong cuộc sống chiến đấu gian khổ, hiểm nguy mà nồng đượm nghĩa tình và sáng ngời chân lí. Khổ thư cuối bài thế hiện tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng và cũng là chiều sâu tư tương mang tính triết lí của tác phẩm:

                                                     Trăng cứ tròn vành vạnh

                                                    như quá khứ đẹp đẽ,

                                                    vẹn nguyên chẳng thể phai mờ.

Ta có thể hiểu khác đi là những người cầm súng bảo vệ Tổ quốc đã ngã xuống trên mảnh đất này không bao giờ tính toán thiệt hơn. Đất nước, dân tộc mãi mãi ghi nhớ công lao của họ. Ánh trăng im phăng phắc không nói mà nói bao điều, nhắc nhở nhà thơ (và cả mỗi chúng ta) rằng:

                                                     con người có thể vô tình,

                                                     có thể lãng quên

                                                     nhưng thiên nhiên và nghĩa tình

                                                    trong quá khứ thì luôn tròn đầy,

                                                    bất diệt.

Bài thơ Ánh trăng là lời tự nhắc nhở của Nguyễn Duy về thái độ, tình cảm của mình đối với quá khứ gian khổ hào hùng của đất nước. Tuy nhiên, bài thơ không phải là lời nhắc nhở riêng ai, mà nhắc nhở cả một thế hệ đã từng trải qua những năm tháng gian khổ của chiến tranh, từng gắn bó với thiên nhiên, được nhân dân đùm bọc, che chở, nay được may mắn sống trong hoà bình thì đừng bao giờ quên quá khứ. Hơn thế, bài thơ còn có ý nghĩa với nhiều người, nhiều thời bởi nó đặt ra vấn đề thái độ trân trọng và biết ơn đối với quá khứ, những người đã khuất và đối với cả chính mình. Bài thơ nằm trong mạch cảm xúc uống nước nhớ nguồn. Đây là truyền thông tốt đẹp của dân tộc Việt Nam ta tự bao đời.

Bài văn phân tích bài thơ ánh trăng của nguyễn duy 5
6

Bài văn phân tích bài thơ ánh trăng của nguyễn duy 6

Tên tác phẩm: Ánh trăng

Tác giả: Nguyễn Duy (1948) tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ

Vài nét về tác phẩm: Bài thơ là sự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước rất bình dị, hiền hậu. Qua đó nhắc nhở người đọc phải có một thái độ sống “Uống nước nhớ nguồn”, thủy chung ân tình với quá khứ, nhớ quên là lẽ thường tình, quan trọng là biết thức tỉnh lương tâm.

Nguyễn Duy sinh năm 1948 là một nhà thơ nổi tiếng trong phong trào thơ văn những năm kháng chiến chống Mỹ. Các tác phẩm của ông gần gũi với cuộc sống và mang hương vị của hồn quê, giản dị nhưng vô cùng sâu sắc. Ánh trăng là một trong những tác phẩm như vậy. Tác phẩm được viết năm 1978 và in trong tập thơ cùng tên của Nguyễn Duy. Ánh trăng đã cho ta thấy những hình ảnh vô cùng chân thực và sự thay đổi của cuộc sống khiến con người ta phải chạy theo một cách mù quáng và vô tình.

Trong bài thơ Ánh trăng, Nguyễn Duy đã mượn hình ảnh ánh trăng để ngẫm về cuộc sống, về những triết lý nhân sinh trước những thay đổi của thời cuộc. Đó cũng là những chiêm nghiệm sâu sắc của nhà thơ về con người, cuộc đời. Tác phẩm được viết theo trình tự thời gian, từ quá khứ đến hiện tại và mở ra những ý niệm nhân sinh sâu sắc.

Mở đầu bài thơ, Nguyễn Duy đã gợi lại những kỷ niệm đẹp, những gắn bó sâu sắc giữa con người và vầng trăng:

                                               Hồi nhỏ sống với đồng

                                               Với sông rồi với bể

                                              Hồi chiến tranh ở rừng

                                              Vầng trăng thành tri kỷ

Những câu thơ nhẹ nhàng như lời tâm sự về một quãng thời gian đẹp đẽ của tuổi thơ, của chiến tranh gian khổ. Không màu mè, khoa trương, bằng những ngôn từ gần gũi nhất, tác giả đã mang đến cho người đọc cảm giác rất chân thực. Sử dụng từ “Hồi nhỏ” mang lại sự thân thuộc, như tác giả đang tâm tình cho những người thân yêu về tuổi thơ của mình. Cuộc sống tuổi thơ dưới ngòi bút Nguyễn Duy cũng thật mộc mạc, nào là đồng, sông, rồi bể. Tuổi thơ ai chẳng gắn bó với những hình ảnh ấy, thế mà Nguyễn Duy lại làm cho nó càng trở nên đặc biệt hơn. Trong đoạn đầu này, tác giả còn sử dụng điệp từ “với” các làm nhấn mạnh thêm sự thân thiết, gắn gó của con người với thiên nhiên. Phân tích ánh trăn Ánh trăng gắn liền với tuổi thơ, là người bạn tri kỷ Ngay cả “hồi chiến tranh” phải chịu bao khổ cực, vất vả cũng được tác giả nhắc đến thật nhẹ nhàng. Từ thuở chăn trâu cắt cỏ, đến lúc thành người lính nơi chiến trường, dù đi đâu vầng trăng vẫn là “tri kỷ”, là người bạn thân thiết nhất, là người “đồng chí” đứng gác cho ta những đêm khuya lạnh lẽo giữa rừng. Dường như ánh sáng từ vầng trăng ấy đã xoa dịu những mỏi mệt, buồn đau của cuộc sống.

                                                   Trăng theo ta mọi bước đường,

                                                    chứng kiến sự trường thành,

                                                   vấp ngã của ta,

                                                   mang đến cho ta sự tin tưởng tuyệt đối.

Có lẽ đó, vầng trăng chính là hiện thân của quá khứ, của những ký ức thân thuộc mà đầy tình nghĩa. Cùng trải qua biết bao vui, buồn, khó khăn, nên nhắc đến vầng trăng, tác giả lại xao xuyến bồi hồi. Vầng trăng của ký ức đẹp chẳng ngôn từ nào có thể diễn tả nổi:

                                                   Trần trụi với thiên nhiên

                                                   Hồn nhiên như cây cỏ

Ở đây, Nguyễn Duy đã vô cùng khéo léo khi sử dụng liên tưởng đầy tính nghệ thuật “trần trụi với thiên nhiên”. Vầng trăng chẳng cần phải khoác lên mình bất cứ bộ trang phục nào, nó vẫn là nó, hòa mình với thiên nhiên, với cuộc sống. Thế mà vẫn trăng vẫn đẹp, vẫn hút hồn biết bao người. Chẳng ai như Nguyễn Duy khi đi so sánh vầng trăng “hồn nhiên như cây cỏ”. Ấy thế nhưng có vẻ chính điều ấy càng làm ta thêm ấn tượng về vầng trăng. Qua đó, ta thấy rõ hơn vẻ đẹp bình dị, mộc mạc và vô cùng hồn nhiên của vầng trăng ấy. Cũng giống như con người của những năm tháng tuổi thơ:

                                                  vô tư, hồn nhiên và trong sáng đến vô cùng.

Tưởng chừng, vầng trăng gắn bó với con người mãi mãi, ấy thế nhưng, Nguyễn Duy lại chợt:

                                                  Ngỡ không bao giờ quên

                                                  Cái vầng trăng tình nghĩa

Vẫn là hình ảnh vầng trăng nuôi dưỡng tâm hồn tuổi thơ bao thế hệ ấy. Ở đây, Nguyễn Duy đã nâng cấp vầng trăng, không còn đơn thuần là tri kỷ, là người bạn tâm giao, giờ đây vầng trăng ấy đã trở thành “vầng trăng tình nghĩa. Ấy thế nhưng từ “ngỡ” lại khiến cho ta phải băn khoăn, mơ hồ. Có lẽ nào vầng trăng tình nghĩa ấy rồi sẽ bị thời cuộc làm quên mất đi?

Khép lại những kỷ niệm đẹp về vầng trăng trong quá khứ, Nguyễn Duy đưa ta về với hiện tại, với sự đổi thay và xa cách trong lòng người. Từ hồi về thành phố Quen ánh điện cửa gương Vầng trăng đi qua ngõ Như người dưng qua đường Dường như cuộc sống hiện tại đã khiến con người ta quên mất đi những ký ức đẹp đẽ của tuổi thơ. Thay vì lưu giữ những ký ức ấy, người ta đã ném nó vào guồng quay của cuộc sống. Ở đây Nguyễn Duy cho ta thấy quy luật đến đau lòng của thực tại:

                                                    khi được sống trong nhung lụa,

                                                    những vất vả, nghèo nàn

                                                   trong quá khứ đã trở thành

                                                   những mảnh ký ức mơ hồ.

Những mảnh ký ức mà người ta muốn vứt bỏ. Sự thay đổi của cuộc sống khiến con người quên mất ánh trăng vẫn ở đó Chiến tranh kết thúc, đất nước hòa bình, người lính từ chiến trường trở về nhanh chóng hòa nhập với cuộc sống đầy đủ tiện nghi. Những ánh điện, cửa gương đã làm cho con người ta trở nên thay đổi. Dường như họ muốn chôn vùi quá khứ vất vả ấy, chứ chẳng muốn giữ nó bên mình.

Trong khi vầng trăng tri kỷ vẫn ở đấy, vẫn ngày ngày “đi qua ngõ” để đợi người bạn tâm giao của mình. Người bạn ấy sống ngay trong những ngôi nhà sáng điện kia, ấy thế mà tưởng chừng như nghìn năm chưa gặp mặt. Phải chăng người ta muốn quên đi người bạn tuổi thơ, hay vẫn nhận ra người bạn ấy như lại cố tình quên? Nguyễn Duy đã vô cùng khéo léo khi so sánh vầng trăng như “người dưng qua đường”. Nghe sao chua xót thế, từng là tri kỷ, chứng kiến bao thăng trầm của cuộc đời, ấy thế mà đến bây giờ vầng trăng bỗng hóa người xa lạ, chẳng còn ai nhớ đến. Thông qua hình ảnh ánh trăng ấy, Nguyễn Duy muốn phản ánh một sự thực đau lòng của xã hội hiện tại:

                                            con người ta thay đổi đến chóng mặt,

                                             vì cuộc sống họ quên mất đi cốt lõi,

                                            quên mất những điều quý giá nhất của cuộc đời.

Có lẽ vầng trăng sẽ đi vào lãng quên mãi mãi nếu không có sự kiện thành phố bị mất điện: Thình lình đèn điện tắt Phòng buyn-dinh tối om Vội bật tung cửa sổ Đột ngột vầng trăng tròn Khoảnh khắc ấy như mở ra cảm xúc vỡ òa. Thế nên, nhịp thơ trong đoạn này được tác giả tạo nên một cách nhanh, mạnh đến lạ thường. Chỉ khi không còn đèn điện, người ta mới “vội” bật tung cửa sổ để rồi “đột ngột” phát hiện ra vầng trăng tròn tỏa sáng lung linh. Có lẽ đây chính là giây phút tĩnh lặng để con người ta ngẫm nghĩ về cuộc sống. Dường như tác giả đã vô cùng bàng hoàng, sững sờ khi gặp lại vầng trăng. Đó phải chăng là cảm giác có lỗi với người bạn lâu năm.

Vì ánh đèn sáng trưng người ta chẳng cần đến thứ ánh sáng mờ ảo của vầng trăng. Chỉ khi không còn thứ ánh sáng nhân tạo kia, người ta mới nhận ra người bạn lâu năm vẫn đứng ở đó, vẹn nguyên và tròn đầy. Cuộc hội ngộ ấy đã thức tỉnh lương tâm con người, để từ đó tác giả thấy day dứt, suy tuy.

Thoạt ngỡ ngàng trước cuộc hội ngộ đầy bất ngờ ấy, tác giả lại rưng rưng với bao sự xúc động đan xen:

                                                  Ngửa mặt lên nhìn mặt

                                                 Có cái gì rưng rưng

                                                 Như là đồng là bể

                                                Như là sông là rừng

Sau phút bỡ ngỡ ấy, Nguyễn Duy đối diện với ánh trăng trong im lặng. Ở đây, tác giả đã sử dụng hình ảnh “ngửa mặt lên nhìn mặt” như muốn nhân cách hóa cho vầng trăng. Đó không đơn thuần là sự đối mặt của những tri kỷ, mà đó còn là hiện tại và quá khứ, sự bạc bẽo vô tình với thủy chung gắn bó. Ánh trăng vẫn là người bạn gần gũi nhất, thủy chung nhất Nhà thơ sử dụng từ “rưng rưng” để miêu tả xúc cảm tự hổ thẹn với sự thay đổi đến vô tình của bản thân. Nhưng đan xen đó cũng là cảm xúc vui sướng của trái tim vốn khô cằn, nay được gặp lại người bạn cũ, gặp lại tri kỷ năm xưa.

Nhìn thấy vầng trăng, những hình ảnh gắn liền với tuổi thơ lại ùa về, với đồng, với bể, với sông, với rừng. Trong một khoảnh khắc cuộc sống hiện tại như không còn hiện hữu, thay vào đó là dòng ký ức ùa về. Đó cũng là phút giây tác giả tự nhìn lại bản thân mình. Chỉ một câu thơ thôi, ấy mà nó bao quát được tất cả mọi thứ, từ quá khứ đến hiện tại, từ tình chung đến bạc bẽo vô tình. Sự xuất hiện của ánh trăng như làm bừng tỉnh một tâm hồn đang khô cằn bởi những thứ của thực tại. Bằng nhịp thơ nhanh, mạnh, Nguyễn Duy đã khiến người đọc cuốn chung vào mạch nguồn cảm xúc của bài thơ.

Từ sự thức tỉnh về chân lý cuộc đời, nhà thơ đã suy ngẫm đến những triết lý nhân sinh sâu sắc:

Trăng cứ tròn vành vạnh

                                                    Kể chi người vô tình

                                                    Ánh trăng im phăng phắc

                                                   Đủ cho ta giật mình.

Ở đây, ánh trăng đã được nâng lên thành biểu tượng của sự vĩnh hằng. Cái “tròn vành vạnh” của vầng trăng không chỉ là sự tròn đầy mà nó còn là sự trọn vẹn nghĩa tình. Dù con người có đổi thay thì vầng trăng vẫn vậy, thiên nhiên vẫn thế, vẫn song hành cùng cuộc sống chẳng đòi hỏi gì. Sự “im phăng phắc” của ánh trăng như một sự bao dung, độ lượng của người bạn thủy chung ấy. Nhưng chính vì sự im lặng ấy đã khiến cho người bạn vô tình bỗng thức tỉnh và kịp thời níu giữ những gì còn sót lại. Câu thơ cuối có lẽ là sự dồn nén đến nghẹn ngào của tác giả. Đó cũng là sự bừng tỉnh về suy tư, về quan điểm của cuộc sống.

Ánh trăng đã thực sự thành công khi sử dụng hình ảnh thiên nhiên để lột tả sự trần trụi của cuộc sống thực tại. Thể thơ 5 chữ với nhịp thơ linh hoạt đã giúp chúng ta hòa cùng nhịp cảm xúc của bài thơ. Cũng từ ấy ta thấy được sự sâu sắc trong cách cảm nhận của tác giả về cuộc đời, về con người. Nguyễn Duy đã thực sự thành công khi khắc họa hình ảnh ánh trăng. Đó là hình ảnh vô cùng chân thực nhưng lại mang những ý nghĩa sâu sắc. Qua đó, ta thấy được một sự thật đau lòng của con người hiện tại: cuộc sống đủ đầy đã che lấp đi những quá khứ, khiến chúng ta trở nên ích kỷ, vô tâm.

Bài văn phân tích bài thơ ánh trăng của nguyễn duy 6
7

Bài văn phân tích bài thơ ánh trăng của nguyễn duy 7

Tên tác phẩm: Ánh trăng

Tác giả: Nguyễn Duy (1948) tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ

Vài nét về tác phẩm: Bài thơ là sự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước rất bình dị, hiền hậu. Qua đó nhắc nhở người đọc phải có một thái độ sống “Uống nước nhớ nguồn”, thủy chung ân tình với quá khứ, nhớ quên là lẽ thường tình, quan trọng là biết thức tỉnh lương tâm.

Nội dung cần phân tích: Cảm nghĩ về vầng trăng quá khứ, những thay đổi trong mối quan hệ của nhà thơ với vầng trăng, cảm xúc và suy ngẫm của tác giả.

Nguyễn Duy là nhà văn trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Là một nhà thơ nổi tiếng và đi đầu trong công cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Thơ văn của ông gần gũi với cuộc sống, mang hương vị thân thương, giản dị và đằm thắm. Một trong những tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Duy là tác phẩm Ánh trăng, tác phẩm rất đỗi gần gũi và giản dị. Ánh trăng gây nhiều xúc động bởi cách diễn tả bình dị, thủ thỉ tâm tình, giọng thơ trầm tĩnh.

Bài thơ được chia thành hai đoạn thời gian. Là quá khứ của tác giả và thời gian hiện tại. Có thể nói dù là trước kia hay ở thời điểm hiện tại vầng trăng luôn đồng hành cùng tác giả.

                                                  "Hồi nhỏ sống với đồng

                                                   với sông rồi với bể

                                                   hồi chiến tranh ở rừng

                                                  vầng trăng thành tri kỷ"

Vầng trăng đã gắn bó thân thiết với con người từ khi con nhỏ đến lúc trưởng. “Hồi” là một khoảng thời gian trong quá khứ được tác giả gợi nhớ. Đây cũng chính là dấu mốc thời gian riêng biệt “hồi nhỏ”, “hồi chiến tranh”. “Sống với đồng”, “với sông” “với bể” đây là không gian sống được tác giả khắc họa.

Một vùng quê thanh bình, yên ả gắn với đồng lúa, sông suối. Điệp từ “với” được lặp lại ba lần khẳng định sự gắn kết, chan hòa giữa vầng trăng và con người. Không chỉ thế qua hai câu thơ đầu đã cho ta thấy được một ký ức tuổi thơ tươi đẹp của tác giả gắn liền với vầng trăng. Tiếp theo là mốc thời gian khi tác giả trưởng thành “hồi chiến tranh ở rừng” đây là lúc ác liệt, gian nan cực khổ nơi rừng sâu nước độc. Tại nơi này trong những chuyến hành quân ánh trăng vẫn luôn soi sáng, luôn bầu bạn mà trở thành “tri kỉ”. Có thể thấy được vầng trăng đã gắn bó với tác giả từ khi ông còn nhỏ ở miền quê yên bình cho đến lúc trưởng thành xông ra tiền tuyến chống giặc.

Ánh trăng ánh vẫn luôn đồng hành cùng tác giả. Vượt qua nhiều khoảnh khắc của cuộc đời.

                                                “Trần trụi với thiên nhiên

                                                 hồn nhiên như cây cỏ

                                                ngỡ không bao giờ quên

                                                cái vầng trăng tình nghĩa”

Vầng trăng “trần trụi”,”hồn nhiên” mộc mạc giản dị. Mọi sự vui buồn sướng khổ đều gắn bó với ánh trăng. Trăng có vẻ đẹp vô cùng bình dị, một vẻ đẹp không cần trang sức, đẹp một cách vô tư, hồn nhiên. Trăng tượng trưng vẻ đẹp thiên nhiên nên trăng hoà vào thiên nhiên, hòa vào cây cỏ.

                                                 "Vầng trăng tình nghĩa"

bởi trăng từng chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ, bởi trăng là người bạn, tri âm, tri kỷ. Trăng hiền hòa, dịu dàng như thế “ngỡ” là tưởng là sẽ mãi chẳng không quên được cái tình cái nghĩa. Nghĩ rằng mối quan hệ giữa người và trăng vẫn bền vững, gắn kết. Nhưng cho đến khi đất nước hòa bình, tác giả trở về thành phố thì mọi chuyện đã khác. “Từ hồi về thành phố Quen ánh điện, cửa gương Vầng trăng đi qua ngõ Như người dưng qua đường” Trước đây họ sống ở nơi đồng quê thanh vắng, vầng trăng là vật biểu tượng cho những tháng năm gian khổ. Khi chiến tranh, vầng trăng chứng kiến tình bạn, tình đồng chí được hình thành trên những gian nan, thách thức.

Nhưng bây giờ, ở thời điểm hiện tại họ quay về thành phố. Bắt đầu một cuộc sống mới. Tại thành phố hoa lệ đông đúc nơi mà “ánh điện”, “cửa gương” đã thay thế cho ánh trăng đơn độc mộc mạc kia. Nơi thành thị nhộn nhịp đông đúc, người đi kẻ lại chẳng mấy ai còn quan tâm đến “vầng trăng” đang “đi qua ngõ”. Là chính họ đã quên hay lối sống nơi thành thị khiến họ không thể nhớ đến người bạn mà họ từng xem là tri âm tri kỷ? Cuộc sống sung túc, đủ đầy đã khiến cho tác giả dần lãng quên đi vầng trăng ấy. Bây giờ chỉ như “người dưng” bước qua nhau. Phải đến khi cái ánh sáng nhân tạo đầy tiện nghi kia tạm thời tắt đi:

                                                    “Thình lình đèn điện tắt

                                                    Phòng buyn đinh tối om

                                                     Vội bật tung cửa sổ

                                                     Đột ngột vầng trăng tròn”

Thành phố xa hoa, nhộn nhịp đột ngột trở nên “tối om” thì vầng trăng mới một lần nữa hiện diện trong tâm trí tác giả. "Vầng trăng" xuất hiện thật bất ngờ, khoảnh khắc ấy, phút giây ấy,... tác giả, bàng hoàng trước vẻ đẹp kì diệu của vầng trăng. Sự xuất hiện của ánh trăng giữa lòng thành phố được một dịp ảm đạm đã làm xáo trộn tâm hồn của nhà thơ. Những kỷ niệm xưa cũ trong miền ký ức đột ngột sống dậy: "Ngửa mặt lên nhìn mặt Có cái gì rưng rưng Như là đồng, là bể Như là sông, là rừng". Nhà thơ đối diện với ánh trăng “ngửa mặt lên nhìn mặt” như là đối diện với một người bạn tuổi thơ. “Người” mà đã gắn bó trong suốt những năm tháng thơ bé và đầy ác liệt hồi ở rừng. Sự xúc động mãnh liệt không thể kiềm được “rưng rưng” nước mắt. Bao kỉ niệm đẹp một đời người ùa về, tâm hồn gắn bó, chan hòa với thiên nhiên, với vầng trăng xưa, với đồng, với bể, với sông, với rừng, với quê hương đất nước.

"Vầng trăng" nhắc nhở tác giả đừng bao giờ quên những tháng năm gian khổ ấy, đừng bao giờ quên tình bạn, tình đồng chí đồng đội, những người đã từng đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi trong những tháng năm chiến đấu đầy gian lao thử thách. Những suy tư, chiêm nghiệm về “vầng trăng nghĩa tình”: "Trăng cứ tròn vành vạnh Kể chi người vô tình Ánh trăng im phăng phắc Đủ cho ta giật mình..." Trăng vẫn vậy, vẫn luôn thủy chung mặc cho bao người thay đổi. Trăng không trách móc, không hờn dỗi. Trăng chỉ “im phăng phắc” bao dung và độ lượng cho bao nhiêu “người vô tình” lãng quên đi. Nhưng cũng chính sự yên lặng đó là hồi chuông đánh thức lương tri.

Cho ta thấy rằng mình sai ở đâu. Dưới cái hiền hòa, độ lượng ấy nhà thơ càng cảm thấy xấu hổ và tội lỗi biết bao. Cái giật mình ở cuối bài cho thấy sự hối lỗi, đã nhận ra những sai lầm của bản thân. Thật tinh tế và khéo léo, Nguyễn Duy đã sử dụng hình ảnh vầng trăng, cùng với quá trình nhận thức của nhân vật trữ tình để làm bật lên tư tưởng, chủ đề của tác phẩm. Nhà thơ sử dụng cách nhân hóa hình ảnh “Vầng trăng” càng làm cho bài thơ thêm sinh động chân thực. Giọng điệu tâm tình tự nhiên, chân thành, hình ảnh giàu tính biểu tượng bài thơ như một lời nhắc nhở đến muôn thế hệ.

Lời thơ kết hợp tự sự với trữ tình. Hình ảnh thơ bình dị, hàm súc, giàu sức gợi và mang nhiều ý nghĩa biểu tượng tất cả đã tạo nên một bài thơ hay và giàu sức gợi cảm. Điều đặc biệt của bài thơ chính đoạn 1 và 2 khi nhà thơ chỉ viết hoa chữ đầu của đoạn thơ. Có thể thấy được tác giả đang tâm sự với độc giả những gì sâu kín trong lòng mình.

“Ánh trăng” như là một lời nhắc nhở đến chúng ta – những con người dễ dàng quên đi những thứ đã gắn bó trong những năm tháng gian khổ khi đạt được những thứ tốt hơn. Bài thơ còn mang những triết lí về lòng thủy chung khiến người đọc phải suy tư ngẫm nghĩ, nhìn lại chính bản thân mình để có thể thay đổi theo chiều hướng tích cực.

Bài văn phân tích bài thơ ánh trăng của nguyễn duy 7
8

Bài văn phân tích bài thơ ánh trăng của nguyễn duy 8

Tên tác phẩm: Ánh trăng

Tác giả: Nguyễn Duy (1948) tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ

Vài nét về tác phẩm: Bài thơ là sự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước rất bình dị, hiền hậu. Qua đó nhắc nhở người đọc phải có một thái độ sống “Uống nước nhớ nguồn”, thủy chung ân tình với quá khứ, nhớ quên là lẽ thường tình, quan trọng là biết thức tỉnh lương tâm.

Nội dung cần phân tích: Cảm nghĩ về vầng trăng quá khứ, những thay đổi trong mối quan hệ của nhà thơ với vầng trăng, cảm xúc và suy ngẫm của tác giả.

Nguyễn Duy thuộc thế hệ làm thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Vừa mới xuất hiện, Nguyễn Duy đã nổi tiếng với bài thơ “Tre Việt Nam". Bài "Hơi ấm ổ rơm" của anh đã từng đoạt giải thưởng báo Văn Nghệ. Hiện nay. Nguyễn Duy vẫn tiếp tục sáng tác. Anh viết đều và khỏe.

"Ánh trăng" là một trong những bài thơ của anh được nhiều người ưa thích bởi tình cảm chân thành, sâu sắc, tứ thơ bất ngờ mới lạ. Hai khổ thơ đầu tác giả nhắc đến những kỉ niệm đẹp:

                                                   "Hồi nhỏ sống với đồng

                                                    với sông rồi với bể

                                                    hồi chiến tranh ở rừng

                                                   vầng trăng thành tri kỉ."

Trăng gắn bó với tác giả ngay từ thời thơ ấu. Trăng gắn với đồng ruộng, dòng sông, biển cả. Dù ở đâu, đi đâu trăng cũng ở bên cạnh. Nhưng phải đến khi ở rừng nghĩa là lúc tác giả sống trên tuyến đường Trường Sơn xa gia đình, quê hương vầng trăng mới thành “tri kỉ". Trăng với tác giả là đôi bạn không thể thiếu nhau.

Trăng chia ngọt sẻ bùi, trăng đồng cam cộng khổ. Tác giả khái quát vẻ đẹp của trăng, khẳng định tình cảm yêu thương, quý trọng của mình đối với trăng:

                                                  “Trần trụi với thiên nhiên

                                                   hồn nhiên như cây cỏ

                                                   ngỡ không bao giờ quên

                                                  cái vầng trăng tình nghĩa.”

Trăng có vẻ đẹp vô cùng bình dị, một vẻ đẹp không cần trang sức, đẹp mội cách vô tư, hồn nhiên. Trăng tượng trưng vẻ đẹp thiên nhiên nên trăng hóa vào thiên nhiên, hòa vào cây cỏ. “Vầng trăng tình nghĩa" bởi trăng từng chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ, bởi trăng là người bạn, tri âm, tri kỉ như tác giả đã nói ở trên. Ấy thế mà có những thời gian tác giả tự thú là mình đã lãng quên cái “vầng trăng tình nghĩa" ấy:

                                                    “Từ hồi về thành phố

                                                     quen ánh điện, cửa gương

                                                     vầng trăng đi qua ngõ

                                                    như người dưng qua đường. ”

Trước đây, tác giả sống với sông, với bể, với rừng, bây giờ môi trường sống đã thay đổi. Tác giả về sống với thành phố. Đời sống cũng thay đổi theo, “quen ánh điện”, “cửa gương". “Ánh điện”, "cửa gương" tượng trưng cho cuộc sống sung túc, đầy đủ sang trọng... dần dần "cái vầng trăng tình nghĩa” ngày nào bị tác giả lãng quên. “Vầng trăng" ở đây tượng trưng cho những tháng năm gian khổ. Đó là tình bạn, tình đồng chí được hình thành từ những năm tháng gian khổ ấy. “Trăng" bây giờ thành “người dưng". Con người ta thường hay đổi thay như vậy. Bởi thế người đời vẫn thường nhắc nhau:

                                                     “ngọt bùi nhớ lúc đắng cay”.

Ở thành phố vì quen với "ánh điện, cửa gương”, quen với cuộc sống đầy đủ tiện nghi nên người đời không thèm để ý đến“vầng trăng" từng là bạn tri kỉ một thời. Phải đến lúc toàn thành phố mất diện: “Thình lình đèn điện tắt phòng buyn đinh tối om vội bật tung cửa sổ đột ngột vầng trăng tròn." "Vầng trăng" xuất hiện thật bất ngờ, khoảnh khắc ấy, phút giây ấy,… tác giả, bàng hoàng trước vẻ đẹp kì diệu của vầng trăng. Bao nhiêu kỉ niệm xưa bỗng ùa về làm tác giả cứ “rưng rưng" nước mắt: 

                                                  “Ngửa mặt lên nhìn

                                                   mặt có cái gì rưng rưng

                                                   như là đồng, là bể

                                                   như là sông, là rừng”.

Nguyễn Duy gặp lại ánh trăng như gặp lại người bạn tuổi thơ, như gặp lại người bạn từng sát cánh bên nhau trong những tháng năm gian khổ. Tác giả không dấu được niềm xúc dộng mãnh liệt của mình. “Vầng trăng" nhắc nhở tác giả đừng bao giờ quên những tháng năm gian khổ ấy, đừng bao giờ quên tình bạn, tình đồng chí đồng đội, những người đã từng đồng cam cộng khổ. chia ngọt sẻ bùi trong những tháng năm chiến dấu đầy gian lao thử thách. Khổ cuối bài thơ, Nguyễn Duy đưa người đọc cùng đắm chìm trong suy tư, trong chiêm nghiệm về “vầng trăng tình nghĩa" một thời:

                                               “Trăng cứ tròn vành vạnh

                                                kể chi người vô tình

                                                ánh trăng im phăng phắc

                                               đủ cho ta giật mình... ”

Trăng vẫn thủy chung mặc cho ai thay đổi, vô tình với trăng. Trăng bao dung và độ lượng biết bao! Tấm lòng bao dung độ lượng ấy "đủ cho ta giật mình" mặc dù trăng không một lời trách cứ. Trăng tượng trưng cho phẩm chất cao quý của nhân dân, trăng tượng trưng cho vẻ đẹp bền vững của tình bạn, tình chiến đấu trong những tháng năm “không thể nào quên".

“Ánh trăng" của Nguyền Duy gây được nhiều xúc động đối với nhiều thế hệ độc giả bởi cách diễn tả bình dị như những lời tâm sự, lời tự thú, lời tự nhắc nhở chân thành. Giọng thơ trầm tĩnh, sâu lắng. Tứ thơ bất ngờ, mới lạ. “Ánh trăng” còn mang ý nghĩa triết lí về sự thủy chung khiến người đọc phải “giật mình" suy nghĩ, nhìn lại chính mình để sống đẹp hơn, nghĩa tình hơn. 

Bài văn phân tích bài thơ ánh trăng của nguyễn duy 8

Ánh trăng đã đi vào lòng người đọc bao thế hệ như một lời nhắc nhở đối với mỗi người: Nếu ai đã lỡ quên đi, đã lỡ đánh mất những giá trị tinh thần quý giá thì hãy thức tỉnh và tìm lại những giá trị đó. Còn ai chưa biết coi trọng những giá trị ấy thì hãy nâng niu những kí ức quý giá của mình ngay từ bây giờ, đừng để quá muộn.

Chúc các bạn cảm thụ sâu sắc và làm tốt chủ đề này với gợi ý Top 8 bài viết phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy hay nhất mà chúng tôi sưu tầm trên nhé! 

Đánh giá:
5/5 - (1 bình chọn)

Bình luận

Vui lòng để bình luận.

Hãy để lại bình luận của bạn tại đây!