Top 10 bài văn phân tích nhân vật Tràng trong "Vợ nhặt" hay nhất

5.0 (1 bình chọn)
364

Kim Lân thuộc hàng những cây bút truyện ngắn tài năng của văn học Việt Nam hiện đại. Vợ nhặt là một trong những sáng tác tiêu biểu của ông. Tác phẩm đã khắc hoạ thành công nhân vật Tràng, và quá trình Tràng và Thị trở thành vợ chồng sau khi gặp nhau giữa thời kỳ khó khăn của nạn đói năm 1945 ở nước ta, đồng thời cũng phơi bày bộ mặt đen tối, coi mạng người rẻ rúm trong chế độ nửa thực dân phong kiến. 

Đây là một tác phẩm xúc động và nhân vật Tràng là điểm nổi bật làm nên thành công của nó. Bạn hiểu và cảm nhận như thế nào về nhân vật này? Dưới đây là top 10 bài văn phân tích nhân vật Tràng trong Vợ nhặt hay nhất dưới óc cảm thụ tinh tế của những cây viết cừ khôi. Hãy cùng khám phá nhé! 

1

Bài văn phân tích nhân vật tràng trong vợ nhặt mẫu 1

- Tên tác phẩm: Vợ Nhặt

- Tác giả: Kim Lân

- Vài nét về tác phẩm: Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của nhà văn Kim Lân khi viết về đề tài cuộc sống của người nông dân Việt Nam trong thời kỳ nạn đói khủng khiếp năm 1945. Bối cảnh bao trùm lên tác phẩm là một màu u ám của sự đói khổ thê lương của những người nông dân nghèo.

- Nội dung cần phân tích: Anh chính là hiện thân cho những người đàn ông nông dân có những phẩm chất tốt đẹp. Hoàn cảnh sống của Tràng là sống trong một xóm ngụ cư, đó là tập thể những con người sống không định cư một chỗ mà chỉ sống cho qua ngày. Đặc biệt họ là những người ở nơi khác dạt đến chứ không phải người dân chính gốc ở đây. Hoàn cảnh sống của Tràng là sống trong nạn đói năm 1945.

 

Viết về người nông dân không phải là đề tài mới hay hiếm gặp mà nó nhiều nhan nhản. Cái cốt của một tác phẩm có thành công với đề tài này hay không là do sức hấp dẫn của những cây bút. Nếu như Nam Cao thành công khi khắc họa thành công nhân vật Chí Phèo nhằm nói lên sự tha hóa bần cùng của người nông dân trong xã hội thực dân phong kiến thì Kim Lân cũng khắc họa thành công người nông dân tên Tràng trong truyện ngắn Vợ Nhặt của ông. Vẫn là đề tài nông dân ấy nhưng Kim Lân đã khơi được cái chưa ai khơi là thân phận rẻ rúng bị coi như rơm rác của con người. Đặc biệt một lần nữa qua nhân vật Tràng nhà văn lại khẳng định những nét đẹp trong tâm hồn của người nông dân Việt Nam.

Đọc truyện ngắn Vợ Nhặt của Kim Lân ta không thể nào quên nhân vật anh Tràng này. Anh chính là hiện thân cho những người đàn ông nông dân có những phẩm chất tốt đẹp. Hoàn cảnh sống của Tràng là sống trong một xóm ngụ cư, đó là tập thể những con người sống không định cư một chỗ mà chỉ sống cho qua ngày. Đặc biệt họ là những người ở nơi khác dạt đến chứ không phải người dân chính gốc ở đây. Hoàn cảnh sống của Tràng là sống trong nạn đói năm 1945.

Gia đình chỉ còn mẹ già là bà cụ Tứ, em gái thì đi lấy chồng còn cha thì đã mất. Hai mẹ con nương tựa vào nhau để mà sống sót qua nạn đói này. Tràng thì làm nghề kéo xe bò thuê nên cũng chưa đến mức phải chết đói. Sáng nào Tràng đi làm cũng chứng kiến biết bao nhiêu là xác người chết, rồi những người sống thì lại bồng bế dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma.

Không khí vẩn lên những mùi hôi thối tanh tủa của xác người. Tràng làm, ăn, ngủ trong tiếng quạ kêu trên những gốc đa và tiếng người khóc khi nhà có người chết đói. Tóm lại Tràng sinh ra trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn của đất nước.

Trước hết là ngoại hình của Tràng, khi nạn đói chưa đến xóm ngụ cư, Tràng xuất hiện với dáng đi ngật ngưỡng, mắt một mí lại gà gà đắm vào bóng chiều. Thân hình thì to lớn vập vạp quai hàm bạnh ra, lưng to như thân một con gấu lớn. Qua những nét ngoại hình ấy ai trong chúng ta cũng biết Tràng không hề đẹp nếu không nói là quá xấu. Tràng giữ cho mình một nét thô kệch nông dân chính gốc. Thế nhưng Tràng lại quá xấu, cái xấu ấy phải chăng tạo hóa đã ban cho anh mà không hề thương xót.

Ngoại hình của Tràng còn được nói đến khi nạn đói tràn vào xóm ngụ cư. Khi ấy Tràng không còn ngất ngưởng vui vẻ được nữa, thay vào đó là dáng đi mệt mỏi, đầu thì về đằng trước mặt cúi gằm lại.Cái đói đã làm mụ mị cả con người Tràng. Với tất cả hoàn cảnh gia đình và ngoại hình như thế thì nguy cơ ế vợ của Tràng là rất cao.Ai lại đi lấy một người xấu xí thô kệch đến thế đã vậy lại còn là dân ngụ cư nữa.

Ở đây người ta khinh những người dân ngụ cư lắm. Thế mà trong nạn đói ấy, Tràng lại lấy được vợ hay nói như trong văn bản thì là Tràng nhặt vợ về. Ô hóa ra con người trong nạn đói cứ như rơm rác hay mớ rau ngoài chợ có thể lựa mà nhặt mang về nhà. Điều thứ ba ta thấy ở nhân vật này đó chính là nét đẹp về tâm hồn. Hoàn cảnh có khó khăn, ngoại hình có xấu xí nhưng lại có một tấm lòng vàng. Chẳng là Tràng gặp người vợ nhặt của mình trong một lần kéo xe thóc lên tỉnh. Lên đến dốc kéo xe nặng anh mới cất lên mấy câu trêu đùa mấy cô gái ngồi nhặt hạt rơi ở đường. Mấy cô ả đẩy người vợ nhặt ra. Khi ấy cô này còn cong cớn lắm. Thế rồi một lần nọ cô ả ở đâu chạy đến và trách Tràng thất hẹn nói phét.

Thị bữa ấy nhìn mặt gầy hẳn đi như cái lưỡi cày vậy. Thương lòng Tràng bảo thị ngồi ăn trầu nhưng Thị từ chối và đòi ăn cái khác. Vậy là Tràng cũng chiều lòng cho Thị ăn một chập bốn bát bánh đúc, ăn xong Thị còn lấy đũa quẹt ngang mồm cất lên một tiếng “chà ngon”. Cái đói đã làm cho người vợ nhặt không còn chút duyên dáng e thẹn nào của người con gái. Thật ra thì Tràng cũng chẳng có mà để hào phóng với thị mà cái thời buổi ấy lo ăn cho gia đình chẳng xong nữa là cho người ngoài.

Thế nhưng chính tấm lòng vàng thương người của anh đã khiến cho anh để cho thị ăn thoải mái một bữa. Không những thế khi ăn xong Thị lại còn không ngần ngại đi theo Tràng. Thị muốn về nhà cũng Tràng, thế là Tràng có vợ. Tràng phân vân bởi thời buổi này đến thân mình còn chưa lo xong lại còn đèo bòng. Nhưng nhìn thấy Thị chẳng có chỗ nào để đi nữa thì Tràng không nỡ bỏ người đàn bà ấy giữa đường. Đó chẳng phải là tấm lòng vàng hay sao. Con người ta dù có gặp khó khăn thế nhưng vẫn dang tay cứu vớt lấy cuộc đời của những con người còn khó khăn hơn mình. Sau cái tặc lưỡi của Tràng là biết bao nhiêu khó khăn phía trước phải đương đầu. Tràng đưa vợ về trong không khí hôi tanh của nạn đói. Những tiếng khóc tiếng quạ kêu cất lên.

Thế nhưng Tràng thay đổi tâm trạng Tràng thấy vui hơn. Khuôn mặt rạng rỡ hơn ánh mắt cũng lấp lánh. Đó là tình yêu sao?. Hay là khát vọng được sống an lành yên ổn. Tràng đưa vợ về trước sự ngạc nhiên của bao nhiêu người xóm ngụ cư. Trong số họ người thì mừng cho anh Tràng người lại thương vì đưa nhau về trong cái trời đất này chỉ thêm khổ. Đến sự ngạc nhiên của bà cụ Tứ nữa nhưng rồi tất cả vẫn chấp nhận cho hai người ở với nhau.

Không những thế Tràng còn là một người đàn ông trưởng thành và có trách nhiệm khi sau một đêm có vợ. Trong buổi sáng thức dậy Tràng vẫn còn mơ màng không tin là mình đã có vợ rồi. Nhìn thấy cảnh tượng mẹ chồng nàng dâu dọn dẹp lại căn nhà và chuẩn bị cho một bữa ăn đón con dâu mới .

Tràng thấy trong lòng mình khoan khoái, thành cần có trách nhiệm với gia đình nhỏ của mình. Đặc biệt trong bữa cơm đầu tiên trong đầu Tràng phấp phới về hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng cùng những người cướp kho thóc Nhật đi trên đê bột đã thể hiện quy luật tìm đến cách mạng của người nông dân.

Nhà văn Kim Lân quả thật đã khai thác khám phá được những vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân Việt Nam. Trong khó khăn khốn khổ như thế nông dân ta vẫn phát huy truyền thống lá lành đùm lá rách. Tràng đại diện cho những người thanh niên nghèo xấu xí nhưng lại giàu tình thương người và sẵn sàng cưu mang những kiếp người khốn khổ hơn mình. Đồng thời nhà văn còn phát hiện được quy luật tìm đến cách mạng của những người nông dân.

 

Bài văn phân tích nhân vật tràng trong vợ nhặt mẫu 1
2

Bài văn phân tích nhân vật tràng trong vợ nhặt mẫu 2

- Tên tác phẩm: Vợ Nhặt

- Tác giả: Kim Lân

- Vài nét về tác phẩm: Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của nhà văn Kim Lân khi viết về đề tài cuộc sống của người nông dân Việt Nam trong thời kỳ nạn đói khủng khiếp năm 1945. Bối cảnh bao trùm lên tác phẩm là một màu u ám của sự đói khổ thê lương của những người nông dân nghèo.

- Nội dung cần phân tích: Chính vì là dân ngụ cư cho nên Tràng bị coi khinh, chẳng ai buồn nói chuyện, trừ lũ trẻ hay trêu chọc mỗi khi anh đi làm về. Chỉ với nét miêu tả của nhà văn, người đọc đã thấy được hình ảnh một người đàn ông xấu xí, thô kệch. “Hắn bước ngật ngưỡng trên con đường khẳng khiu luồn qua cái xóm chợ của những người ngụ cư vào trong bến.

“Kim Lân là người một lòng, một dạ đi về với đất, với người, với thuần hậu nguyên thủy của cuộc sống thôn dã” (Phan Ngọc). Vâng, khi nhắc đến tác phẩm Vợ Nhặt nổi bật là hình ảnh nhân vật Tràng sẽ thấy rõ chính tình yêu đặt nơi quê hương quá đậm sâu đã khiến cho những lời văn của Kim Lân da diết, chân thực tái hiện về con người và nông thôn. Nghệ thuật miêu tả nhân vật của nhà văn rất thành công, tâm lí của nhân vật Tràng sau khi lấy vợ được Kim Lân thể hiện rất hay, đặc biệt.

Một anh chàng ngoài 30 tuổi nhưng vẫn chưa có vợ, ngật ngưỡng bước đi trong ánh chiều tàn chính là Tràng trong Vợ Nhặt. Tràng có thân hình to lớn, vạm vỡ khỏe khoắn, cặp mắt ti hí, hàm răng bạch ra, đầu trọc lóc tuy xấu xí nhưng tâm tính thì rất hiền lành, tốt bụng, thân thiện được bọn trẻ con trong làng thích. Hài hòa với ngoại hình, Tràng sống trong một căn nhà tồi tàn, lụp sụp có mảnh vườn lổn nhổn cỏ dại cùng người mẹ già.

Trong xã hội lúc đó những người nghèo khó được xếp vào hàng dân ngụ cư, bị kinh thường thì lúc đó Tràng là người được xem như thế. Giữa nạn đói năm đó, Tràng đẩy xe thóc ra tình thì bắt gặp mấy chị ngồi nhặt thóc, Tràng buông lời chọc ghẹo: “Muốn ăn cơm trắng mấy giờ này, thì lại đây mà đẩy xe bò với anh nì…” Bỗng có người đàn bà đến giúp đỡ anh và liều lĩnh theo anh về nhà. Hắn đã quên cô nàng này bởi hai người chưa kịp quen nhau. Và rồi họ gặp lại nhau trong lần Tràng đẩy xe thóc lên tỉnh, trả thóc xong ngồi uống nước thì bỗng thấy người đàn bà kia bay đến mắng sa sả. Thị quá rách rưới, thân hình gầy sọp hẳn đi nên anh không nhận ra, vì bản tính tốt bụng nên anh sẵn sàng mời bánh đúc vì Thị quá đói không cần sĩ diện. Tràng nửa giởn nửa thật buông lời thì không ngờ người đàn bà ấy tự nguyện theo về làm vợ.

Mặc dù gia đình cũng đang rất nghèo đói nhưng Tràng không bận tâm, liều lĩnh chấp nhận cô gái này.Trong cái đói triền miên đó, một người vừa xấu xí lại nghèo khó như Tràng không ai có thể hình dung được hắn có thể có vợ. Tràng một cách tình cờ và đầy trớ trêu, người đàn bà xa lạ đó đã xáo động cuộc sống và tâm tư khiến anh trở nên tốt đẹp hơn. Sáng hôm sau khi dẫn cô gái ấy về nhà Tràng thức dậy đầy sảng khoái. Nhìn ngắm nhà cửa tươm tất, sạch sẽ hắn phấn chấn hơn, cả mẹ cậu cũng vui mừng. Hạnh phúc đôi khi chỉ cần giản dị như thế, mặc cho gia đình đang chìm trong cảnh nghèo khó. Tràng nảy sinh cái suy nghĩ sẽ yêu thương, có trách nhiệm với gia đình, sinh con đẻ cái. Tràng tin tưởng vào một tương lai tươi sáng dù nạn đói tối tăm vẫn đang bủa vây.

Bữa ăn sáng đầu tiên trong gia đình Tràng của Thị, mọi người đều vui vẻ cười nói cùng nhau. Thị đón nhận bát cháo từ người mẹ trong vẻ ngạc nhiên, Tràng thì nhăn mặt cay đăng nuốt miếng cám đắng chát, thực trạng của nạn đói lúc bấy giờ. Nhìn ánh mắt Thị tối sầm như bao phủ lên cuộc đời Tràng.

Sau đó Thị cất lời nói:“Trên mạn Bắc Giang, Thái Nguyên người ta không chịu đóng thuế nữa mà họ phá kho thóc Nhật chia cho người đói”. Tràng biết đó là Việt Minh. Lúc này Tràng lóe lên suy nghĩ trong đầu là một đoàn người kéo nhau đi trên đê Sộp bên cạnh lá cờ đỏ sao vàng phấp phới. Trong lòng Tràng lóe lên ánh sáng của lá cờ tươi thắm của cách mạng, cuả những niềm hy vọng của sự đổi thay, giải phóng cuộc đời cơ cực, bi ai đầy tăm tối này. Khi có Thị mặc dù thêm gánh nặng một người ăn nhưng Tràng không nhìn vào cái khổ đó mà anh luôn suy nghĩ một cách lạc quan, đầy hy vọng. Đời sống của anh.

Từ ngày có Thị bước vào đời sống của anh có sự vận động từ trong tăm tối nghèo đói vươn ra ngoài ánh sáng đầy hy vọng, tin tưởng. Việc đưa nghệ thuật miêu tả tâm trạng, cảm xúc của nhân vật không phải ai cũng thể hiện đặc biệt như Kim Lân. Giản dị, nhẹ nhàng không chút phô trương trong từng lớp ngôn từ, khẽ chạm đến người đọc, truyền tải hết nội dung nhà văn đã thể hiện. Dù là nạn đói nhưng tư tưởng nhân đạo được lồng vào tác phẩm một cách tình cờ mà rất ý nghĩa, nhân văn.

Bài văn phân tích nhân vật tràng trong vợ nhặt mẫu 2
3

Bài văn phân tích nhân vật tràng trong vợ nhặt mẫu 3

- Tên tác phẩm: Vợ Nhặt

- Tác giả: Kim Lân

- Vài nét về tác phẩm: Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của nhà văn Kim Lân khi viết về đề tài cuộc sống của người nông dân Việt Nam trong thời kỳ nạn đói khủng khiếp năm 1945. Bối cảnh bao trùm lên tác phẩm là một màu u ám của sự đói khổ thê lương của những người nông dân nghèo.

- Nội dung cần phân tích: Tràng vốn dĩ là người thô kệch trong thời buổi khó khăn này, chưa nghĩ tới nghèo đói lấy được vợ mà ngay cả chuyện tìm được một người ưng ý cũng đã khó. Chính vì vậy khi mà anh tự dưng có vợ thì Tràng vân chưa hết bất ngờ: “đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế.

Độc giả biết nhiều hơn tới Kim Lân với những tác phẩm gắn liền với những truyện ngắn tài năng của Văn học Hiện đại Việt Nam. Những nhân vật của ông thường là những con người nghèo khổ và bần cùng. Nhưng ở họ vẫn luôn tồn tại một nét đẹp tâm hồn bất diệt. Nhà văn đã khai thác triệt để vẻ đẹp đó và viết nên những trang truyện mà khiến cho người đọc xúc động và rút ra nhiều bài học ý nghĩa. Vợ nhặt là một trong những sáng tác tiêu biểu của ông. Tác phẩm đã khắc hoạ thành công nhân vật Tràng, một người lao động nghèo khổ nhưng giàu tình yêu thương, luôn khao khát hạnh phúc gia đình giản dị.

Tác phẩm Vợ Nhặt ra đời trong hoàn cảnh đất nước rơi vào nạn đói kinh hoàng thời kì 1945, khi mà nhân dân ta chịu cảnh chết đói như ngả rạ, người người nhà nhà rơi vào cảnh khó xử. Không khí của những làng quê được miêu tả là “người chết như ngả rạ, không buổi sáng nào người trong làng đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường.

Không khí bốc lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Khung cảnh xóm ngụ cư ấy đã diễn tả được cái đói đang hoành hành, đời sống nhân dân thê thảm”. Xóm nghèo ấy cũng là xóm ngụ cư,mọi người tứ phương đổ về ai cũng mong muốn tìm được cái ăn để đỡ đói qua ngày.

Cũng chính từ cái nghèo đói đó mà tác giả Kim Lân càng muốn khắc họa vẻ đẹp tiềm ẩn của người nông dân, đặc biệt là nhân vật Tràng. Giữa cái đói nghèo ấy nhưng anh vẫn có một tâm hồn lạc quan về phía trước và một người giàu lòng thương yêu, chính cái thương đó đã đưa Tràng và vợ Tràng đến với nhau trong một hoàn cảnh như vậy. Truyện ngắn mở đầu bằng hình ảnh anh cu tràng “hắn bước đi ngật ngưỡng, vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai bên quai hàm bạnh ra…” những chi tiết này khiến độc giả hình dung ra một người đàn ông xấu xí thô kệch, và đặc biệt trong cảnh nghèo đói này anh chàng cũng không khác gì những người dân ở xóm ngụ cư này.

Từ ngày nạn đói hoành hành, đám trẻ con không buồn trêu tràng nữa, vì chúng đã không còn sức lực. Xung quanh xóm ngụ cư được phủ lên 1 khung cảnh buồn thiu, đầy ám ảnh bao phủ lên xóm nghèo. Trong khung cảnh chiều tà, suy nghĩ của Tràng được tái hiện “hắn bước đi từng bước mệt mỏi, cái áo nâu tàng vắt sang một bên cánh tay.

Hình như những lo lắng, cực nhọc đè nặng lên cái lưng gấu của hắn”. Thành công của Kim Lân chính là đã tạo dựng được một tình huống truyện độc đáo, dẫn dắt người đọc từ bất ngờ này tới bất ngờ thú vị khác. Chi tiết Tràng nhặt được vợ để từ đó làm nổi bật khao khát hạnh phúc, tình yêu thương, cưu mang đùm bọc lẫn nhau của những con người đói. Nhan đề của tác phẩm cũng đặt ra một dấu chấm hỏi và thắc mắc cho người đọc, tại sao lại là vợ nhặt, vì vốn dĩ giữa lúc khó khăn khốn cùng này còn ai nghĩ tới chuyện vợ con gì nữa, hai là nếu lấy vợ thì phải là hai bên qua lại chứ sao lại nhặt được.

Ấy chính cái nhan đề ấy đã dẫn tới tình huống truyện đặc sắc thu hút người đọc. Nhưng tình huống truyện còn có một mạch khác: chủ thể của cái hành động “nhặt” kia là Tràng, một gã trai nghèo, xấu xí, dân ngụ cư, đang thời đói khát mà đột nhiên lấy được vợ, thậm chí được vợ theo thì quả là điều lạ. Lạ tới mức nó tạo nên hàng loạt những kinh ngạc cho hàng xóm, bà cụ Tứ – mẹ Tràng và chính bản thân Tràng nữa. Những hình ảnh và chi tiết này được tác giả khắc họa một cách rõ nét và sắc sảo.

Tràng vốn dĩ là người thô kệch trong thời buổi khó khăn này, chưa nghĩ tới nghèo đói lấy được vợ mà ngay cả chuyện tìm được một người ưng ý cũng đã khó. Chính vì vậy khi mà anh tự dưng có vợ thì Tràng vân chưa hết bất ngờ: “đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?”. Rồi cái ngỡ ngàng trước hạnh phúc kia cũng nhanh chóng đẩy thành niềm vui hữu hình cụ thể. Đó là niềm vui về hạnh phúc gia đình – một niềm vui giản dị nhưng lớn lao không gì sánh nổi.

Qua câu chuyện chúng ta còn thấy nhiều vẻ đẹp ở nhân vật tràng, nó được thể hiện những chi tiết nhỏ nhặt nhưng cũng đủ làm nổi bật hình ảnh của một người đàn ông biết thương yêu biết coi chuyện gia đình là nghiêm túc. Mặc dù người vợ được hắn nhặt về, nhưng Tràng không hề rẻ rúng, khinh miệt thị. Trái lại, Tràng vô cùng trân trọng, coi chuyện lấy thi là một điều nghiêm túc. Khát vọng mái ấm gia đình đã khiến Tràng vượt qua lo lắng về cái đói “đến thân còn chẳng lo nổi, lại còn đèo bòng”. Tràng chậc lưỡi “kệ” cái đói, mua cho thị cái thúng con, vài xu dầu và dẫn thị về căn nhà lụp xụp rách nát của mẹ con mình.

Tác giả Kim Lân còn miêu tả tâm lí của Tràng một cách đặc sắc, đó là cảm giác của tràng vào buổi sáng hôm sau, Tràng thấy khoan khoái như người từ trong giấc mơ đi ra. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Đó là một điều thật bình dị nhưng có ý nghĩa vô cùng lớn lao trong cuộc đời Tràng. Hắn thấy hắn nên người. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng”.

Một niềm vui thật cảm động, lẫn cả hiện thực lẫn giấc mơ. Thêm vào đó chi tiết: “Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà” là một đột biến quan trọng, một bước ngoặt đổi thay cả số phận lẫn tính cách của Tràng: từ khổ đau sang hạnh phúc, từ chán đời sang yêu đời, từ ngây dại sang ý thức. Từ trong thâm tâm của anh, anh đã có một ý thức và trách nhiệm sâu sắc rằng anh đã có vợ và phải cố gắng để lo lắng cho tổ ấm của mình.

Cùng với đó, ở phần kết khi mà hình ảnh của lá cờ đỏ sao vàng cứ mãi xuất hiện trong đầu Tràng dự báo cho một tương lai mới sẽ xảy ra. Đây là điều mà các tác phẩm văn học hiện thực giai đoạn 1930 – 1945 không nhìn thấy được.

Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, là tác phẩm giàu giá trị hiện thực, nhân đạo, là tình người là ca ngợi niềm tin bất diệt vào tương lai tươi sáng của con người. Kim Lân đã thành công trong việc xây dựng tình huống truyện và phân tích tâm lí nhân vật. Cùng với đó, những ngôn từ cách mà tác giả dẫn dắt cũng góp phần làm nổi bật ý nghĩa câu chuyện và đặc biệt là nhân vật Tràng.

Bài văn phân tích nhân vật tràng trong vợ nhặt mẫu 3
4

Bài văn phân tích nhân vật tràng trong vợ nhặt mẫu 4

- Tên tác phẩm: Vợ Nhặt

- Tác giả: Kim Lân

- Vài nét về tác phẩm: Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của nhà văn Kim Lân khi viết về đề tài cuộc sống của người nông dân Việt Nam trong thời kỳ nạn đói khủng khiếp năm 1945. Bối cảnh bao trùm lên tác phẩm là một màu u ám của sự đói khổ thê lương của những người nông dân nghèo.

- Nội dung cần phân tích: Anh có vẻ ngoài xấu và thô kệch: đôi mắt nhỏ tí, thân hình vậm vạp. Trong xã hội cùng cực đau thương tủi nhục, với thân phận và địa vị như thế chắc chắn rồi cuộc đời của Tràng sẽ kết thúc trong sự cô đơn, tủi nhục. Nhưng trong diễn biến của câu chuyện Tràng lại có vợ, có một gia đình hạnh phúc mà đến chính anh cũng ngỡ ngàng như đó không phải là sự thật. Nói cho đúng hơn là chính lòng thương người không đắn đo, toan tính đã trao tặng anh món quà “hạnh phúc”.

Nói đến các nhà văn trong nền văn học hiện đại thì không thể không nói đến Kim Lân. Và khi nói đến Kim Lân thì người đọc sẽ nhớ ngay đến “Vợ nhặt”. Tác phẩm được xem là một trong những tác phẩm điển hình của văn học Việt Nam. Với “Vợ nhặt” Kim Lân đã làm nổi bật nhân vật Tràng- hình tượng người nông dân hiền lành chất phác, giàu lòng yêu thương trong hoàn cảnh hết sức éo le ngang trái.

Dẫn dắt vào tác phẩm, thoạt tiên nhà văn Kim Lân đã cho ta biết được một vài nét về thân phận và địa vị của nhân vật. Tràng vốn là người dân nghèo trong xóm ngụ cư sống cùng người mẹ già trong một căn nhà xiêu quẹo, rách nát. Hằng ngày anh phải ra sức đẩy xe bò chở thóc mướn.

Anh có vẻ ngoài xấu và thô kệch: đôi mắt nhỏ tí, thân hình vậm vạp. Trong xã hội cùng cực đau thương tủi nhục, với thân phận và địa vị như thế chắc chắn rồi cuộc đời của Tràng sẽ kết thúc trong sự cô đơn, tủi nhục. Nhưng trong diễn biến của câu chuyện Tràng lại có vợ, có một gia đình hạnh phúc mà đến chính anh cũng ngỡ ngàng như đó không phải là sự thật. Nói cho đúng hơn là chính lòng thương người không đắn đo, toan tính đã trao tặng anh món quà “hạnh phúc”.

Kim Lân đã xây dựng một tình huống hết sức độc đáo: Tràng đã “nhặt” được vợ qua hai lần gặp gỡ. Lần thứ nhất khi anh đẩy xe bò lên dốc. Anh hò chơi một câu cho đỡ mệt “Muốn ăn cơm trắng mấy giò này lại đây mà đẩy xe bò với anh nì”. Chủ tâm của anh không phải để chọc ghẹo cô nào, nhưng không ngờ có một chị lại cong cớn chạy ra và giúp Tràng đẩy xe lên dốc. Lần thứ hai khi đang ngồi uống nước ở cổng chợ tỉnh thì người đàn bà xuất hiện và mắng Tràng “điêu”. Trong tình huống đó anh không biết làm sao cho hợp tình hợp lí. Anh mời chị ăn trầu nhưng chị không ăn trầu mà đòi ăn thứ khác. Tràng đành mời liều “muốn ăn gì thì ăn” thế là thị sà xuống ăn một chập bốn bát bánh đúc.

Ăn xong, Tràng nói một câu mà như nói tầm phơ tầm phào "Nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về". Nói đùa thế thôi, ai ngờ thị về thật. Lúc đầu Tràng phảng phất lo sợ về cái đói và cái chết "mới đầu anh cũng chợn, nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng". Đó là nỗi sợ hãi có thật nhất lại là thời đói kém như thế này. Nhưng có lẽ tình thương người và khát vọng hạnh phúc đã lớn hơn nỗi sợ hãi nên sau đó anh chặc lưỡi" Chậc kệ!". Chỉ một từ "kệ" thôi, Tràng như đã bỏ lại sau lưng mình tất cả nỗi sợ hãi, mọi lo nghĩ để vun vén cho cái hạnh phúc của mình.

Đọc lướt qua câu chuyện ta ngỡ như việc “nhặt vợ” của Tràng là tình cờ nhưng nghĩ cho kĩ ta sẽ thấy rằng việc làm ấy xuất phát từ tình yêu thương của con người chân chính. Tình thương người đã cho anh quyết định dứt khoát là đưa người đàn bà xa lạ về chung sống. Hành động ấy của Tràng còn tiềm ẩn khát vọng hạnh phúc lứa đôi, hạnh phúc gia đình mà trước đây anh không dám ao ước. Chính khát vọng và tình thương đã làm cho Tràng biến đổi từ dáng vẻ bên ngoài đến bên trong tâm hồn. “Mặt hắn có một vẻ gì hớn hở khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”.

Với cách miêu tả ấy dường như trước mắt người đọc là một anh Tràng khác hẳn. Từ một con người mang mặc cảm về thân phận, một trái tim cằn cỗi nay lại hồi sinh. Về đến nhà, lúc đầu Tràng thấy "ngượng nghịu" rồi cứ thế "đứng tây ngây ra giữa nhà, chợt hắn thấy sờ sợ". Nhưng đó chỉ là cảm giác thoáng qua thôi. Hạnh phúc lớn lao quá khiến Tràng lại lấy lại được thăng bằng nhanh chóng. Lúc sau Tràng tủm tỉm cười một mình với ý nghĩ có phần ngạc nhiên sửng sốt, không dám tin đó là sự thật: "hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư ?". Đó là sự ngạc nhiên trong sung sướng. Khi đã có vợ rồi niềm vui sướng trong anh tràn ngập.

Dường như anh đã quên đi cuộc sống tối tăm thường nhật và cảm nhận một sự thay đổi. Tràng ý thức được trách nhiệm, bổn phận của người chồng, người chủ gia đình “Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng…Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”. Từ một con người cục mịch, sống vô tư, chỉ biết việc trước mắt, Tràng đã là người quan tâm đến những chuyện ngoài xã hội và khao khát sự đổi đời. Khi tiếng trống thúc thuế ngoài đình vang lên vội vã, dồn dập, Tràng đã thần mặt ra nghĩ ngợi, đây là điều hiếm có đối với Tràng xưa nay.

Trong ý nghĩ của anh lại vụt hiện ra cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi để cướp kho thóc của Nhật và đằng trước là lá cờ đỏ. Tràng nhớ tới cảnh ấy và lòng ân hận, tiếc rẻ và trong óc vẫn thấy đám người đói và lá cờ bay phấp phới…

Có thể nói truyện ngắn “Vợ nhặt” đã xây dựng thành công nhân vật Tràng-một anh nông dân nghèo nhưng giàu lòng yêu thương. Đồng thời qua Tràng nhà văn còn cho thấy sức sống mãnh liệt, diệu kì của con người Việt Nam trong khó khăn cuộc sống. Dường như càng đau khổ, mất mát người ta lại yêu thương nhau nhiều hơn. Và cũng lí giải vì sao dân tộc ta làm làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.

Bài văn phân tích nhân vật tràng trong vợ nhặt mẫu 4
5

Bài văn phân tích nhân vật tràng trong vợ nhặt mẫu 5

- Tên tác phẩm: Vợ Nhặt

- Tác giả: Kim Lân

- Vài nét về tác phẩm: Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của nhà văn Kim Lân khi viết về đề tài cuộc sống của người nông dân Việt Nam trong thời kỳ nạn đói khủng khiếp năm 1945. Bối cảnh bao trùm lên tác phẩm là một màu u ám của sự đói khổ thê lương của những người nông dân nghèo.

- Nội dung cần phân tích: Ánh nắng buổi sáng mùa hè sáng lóa xóa vào hai con mắt còn cay sè của hắn. Hắn chớp chớp liên hồi vài cái” bỗng nhận ra nhà cửa, ruộng vườn nhà mình đã thay đổi cả. Khi ăn bữa sáng là “bát cháo cám” Tràng cảm nhận được sự “đắng chát và nghẹn ứ trong cổ họng” ấy như đã tự nhận ra vai trò, bổn phận của bản thân mình với mẹ và vợ mình sau này. Bỗng nhiên Tràng thấy thương yêu và gắn bó với chính gia đình của mình hơn bao giờ hết.

 

Kim Lân là một cây bút chuyên viết truyện ngắn, đề tài của ông là nông thôn và người nông dân, có những trang viết về nét đặc sắc của phong tục và đời sống của dân tộc. Ông viết một cách chân thực, thấu hiểu về cuộc sống và cảnh ngộ của những người nông dân – những con người gần gũi và luôn gắn bó trong cách mạng. Tiêu biểu trong số những tác phẩm ấy phải kể đến truyện ngắn “Vợ nhặt”. Trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân chắc chắc người đọc sẽ có nhiều ấn tượng với hình ảnh của nhân vật Tràng – một người đàn ông nghèo, lại xấu xí nhưng trong mọi tình huống trớ trêu lại có được vợ.

Tác giả xây dựng nhân vật Tràng trong một tình huống éo le đầy cảm động. Éo le ở chỗ hạnh phúc của Tràng được đặt trên tình cảnh của nạn đói khủng khiếp, thê thảm, nạn đói năm 1945 của nhân dân miền Bắc Việt Nam là một dấu mốc thời gian đồng thời nó cũng là một dấu mốc tâm tưởng không bao giờ quên của người dân khi mà không gian sống bị biến thành không gian của một bãi tha ma. Người chết đến nỗi “chết như ngả rạ”, “không ngày nào trên đường làng lại không gặp 3 4 cái xác chết còng queo ở dọc đường”.

Tất cả những gì người ta thấy cảm nhận được đều là sự hiện hữu của cái chết. Khi mà nguyên nhân của những cái chết kia chính là nạn đói, nó gây sức ám ảnh lớn và trở thành cả âm thanh, mùi vị nữa: “tiếng quạ kêu”, “tiếng khóc tỉ tê, khóc hờ của những gia đình có người bị chết”.

Mọi thứ âm thanh khác thì như nhỏ dần, yếu dần và mất dần đi y như cái đuối dần của sự sống vậy. Hạnh phúc của Tràng lại được diễn ra trong một không gian như vậy mong manh biết chừng nào giữa sự sống và cái chết đang cận kề với nhau, nơi không gian sống mà có đến chín phần là tử trong đó. Tác giả xây dựng nhân vật Tràng là một người xấu xí, nhà nghèo và có gia cảnh hết sức thương tâm cho mỗi người đọc khi đọc tác phẩm. Tràng có một gia cảnh nghèo, leo đơn, có một ngôi nhà ngụ cư “siêu vẹo, rúm ró, vắng teo, trên một mảnh vườn lổm ngổm toàn là những đám cỏ dại”. Tràng phải nuôi thêm một mẹ già.

Trong lúc cả xã hội đau khổ thì bản thân Tràng còn đói rách và đau khổ hơn rất nhiều phần. Bản thân Tràng là một người dân ngụ cư đã xấu trai, thô kệch lại mang cái lưng gù, tên của Tràng cũng là một tên gọi bình thường, mộc mạc và chân chất không có gì đặc biệt cả. Về vẻ bề ngoài Tràng đã không được tạo hóa ưu đãi ngược lại còn như một sản phẩm bị lỗi của chính tạo hóa vậy. Công việc của Tràng cũng không ổn định đó chỉ là việc đẩy xe bò thuê để kiếm tiền, đây là một công việc hết sức bấp bệnh mà bên cạnh nạn đói kinh hoàng kia thì dường như Tràng đang đứng ngay ở bờ vực của cái chết gần nhất và gần hơn bất cứ ai.

Tràng được tác giả miêu tả là một người hội tụ tất cả những yếu tố mà không thể lấy được vợ. Tiếp đến tác giả miêu tả tâm hồn và tính cách của nhân vật Tràng, là một điển hình cho người nông dân lương thiện có tấm lòng nhân hậu, sẵn sàng cứu giúp, cưu mang người khác khi cùng chung cảnh ngộ với mình dù hoàn cảnh của mình có khó khăn đến mấy.

Tràng một người hết sức hào phóng khi sẵn sàng cho một người đàn bà lạ một bữa ăn giữa ngày đói khát của toàn xã hội lúc bấy giờ. Người đàn bà lạ về nhà chung sống với mình trong cảnh nghèo khó chính bản thân Tràng còn không chắc sẽ có bữa cơm cho ngày mai hay không, không chắc mai mình có phải là người tiếp theo bị thần chết mang đi không nhưng vẫn sẵn sàng “đèo bòng” thêm một người phụ nữ khác, thêm một miệng ăn nữa trong gia đình mình.

Đó là Tràng trước khi chưa có vợ, còn Tràng sau khi nhận ra mình đã có vợ, Tràng đã thay đổi thành một con người khác. Tràng sống có mục tiêu và thêm yêu cuộc sống của mình hơn, có niềm tin vào tương lai và cách mạng hơn. Buổi sáng đầu tiên khi thức dậy với người vợ của mình, cảm nhận của Tràng thay đổi khác hẳn so với mọi ngày: “mặt trời lên bằng con sào, Tràng mới dậy”, “chắp tay sau lung thừng thững bước ra sân.

Ánh nắng buổi sáng mùa hè sáng lóa xóa vào hai con mắt còn cay sè của hắn. Hắn chớp chớp liên hồi vài cái” bỗng nhận ra nhà cửa, ruộng vườn nhà mình đã thay đổi cả. Khi ăn bữa sáng là “bát cháo cám” Tràng cảm nhận được sự “đắng chát và nghẹn ứ trong cổ họng” ấy như đã tự nhận ra vai trò, bổn phận của bản thân mình với mẹ và vợ mình sau này. Bỗng nhiên Tràng thấy thương yêu và gắn bó với chính gia đình của mình hơn bao giờ hết.

Viết về nhân vật Tràng tác giả Kim Lân đã đặt Tràng vào một tình huống kì quặc, oái oăm hơn bao giờ hết, nhưng tác giả đã đồng điệu vào nhân vật để cất lên bài ca nhân bản sâu sắc. Con người dù có đau khổ đến đâu nhưng họ vẫn có quyền ước mơ về một cuộc sống gia đình hạnh phúc, hướng về cách mạng, về một tương lai tươi sáng hơn.

Bài văn phân tích nhân vật tràng trong vợ nhặt mẫu 5
6

Bài văn phân tích nhân vật tràng trong vợ nhặt mẫu 6

- Tên tác phẩm: Vợ Nhặt

- Tác giả: Kim Lân

- Vài nét về tác phẩm: Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của nhà văn Kim Lân khi viết về đề tài cuộc sống của người nông dân Việt Nam trong thời kỳ nạn đói khủng khiếp năm 1945. Bối cảnh bao trùm lên tác phẩm là một màu u ám của sự đói khổ thê lương của những người nông dân nghèo.

- Nội dung cần phân tích: anh chính là người đại diện cho tầng lớp nông dân nghèo khổ, sống ở xóm ngụ cư nuôi mẹ già, công việc hằng ngày kiếm sống chính là đẩy xe bò mướn. Người ta thường nói cuộc đời vốn dĩ công bằng, nhưng có lẽ đối với người thanh niên Tràng thì lại quá bất công, số phận khổ cực bần cùng của chàng trai đi đôi với ngoại hình xấu xí, thô kệch với cái đầu trọc lóc, cái lưng to bè như lưng gấu, đôi mắt thì nhỏ tí gà gà.

Nhà văn Nga I.Bônđarep từng có ý tưởng rằng “Nghệ thuật sinh ra từ những thái cực và xung đột”. Ý kiến này quả đúng khi bàn về truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân. Với tác phẩm Vợ Nhặt nhà văn đã làm hiện lên trước mắt người đọc một bức tranh sinh động về hiện thực thê thảm ấy và lạ thay, giữa khoảng trống lay lắt,tối tăm của cuộc sống đói nghèo nhà văn đã cho ta thấy được tấm lòng của những con người đói khổ dù đang bị cái đói, cái chết rình rập nhưng họ vẫn cưu mang, đùm bọc, yêu thương và san sẻ, cùng hướng về sự sống, về hạnh phúc và tương lai. Nó được thể hiện như thế nào qua hình tượng nhân vật Tràng.

Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân viết không lâu sau nạn đói khủng khiếp năm 1945. Nhà văn đã tái hiện lại thời khắc lịch sử ghê rợn thê lương, nó hòa nhập giữa cõi âm và cõi trần , giữa sự sống và cái chết , giữa người và ma.

Tất cả hình ảnh, âm thanh, con người hiện lên đều rất chân thực, không một chút cường điệu. Qua truyện ngắn, người đọc mang đầy đủ những xúc cảm vừa độc đáo, éo le lại đầy cảm động và tin yêu. Đi sâu vào nhân vật Tràng ta sẽ thấy tất cả hiện thực và nhân đạo mà tác giả gửi gắm. Nhắc đến Tràng là nhắc đến nhân vật được hóa công đẽo gọt quá sơ sài.

Tràng- nhân vật chính của truyện được Kim Lân cho xuất hiện trên nền của cái đói với bóng người “xanh xám như những bóng ma”, người sống “nằm ngổn ngang khắp lều chợ”. Tràng có cái tên đặc biệt, một thứ đồ của thợ mộc- cái tràng. Anh được ngòi bút Kim Lân vẽ sơ sài với “hai con mắt gà gà, nhỏ tí”, “hai bên quai hàm bạnh ra”, mặt thì thô kệch, thân hình “vập vạp”.

Không những vậy đến nơi ở của anh thì cành dong rấp cổng, tấm phên rách che nhà, mảnh vườn lổn nhổn là cỏ dại. Hơn hết, Tràng lại là dân ngụ cư, một loại người mà lúc bấy giờ bị ruồng bỏ như một thứ cỏ rác của hương thôn. Rõ ràng, trong hoàn cảnh ấy Tràng chỉ có thể cùng mẹ già nương tựa nhau qua nạn đói mà khó có thể lấy một cô vợ. Mang ngoại hình thô kệch, xấu xí nhưng Tràng có trái tim nhân hậu, phóng khoáng. Bản thân dù đói nhưng không ngần ngại bỏ tiền mời người đàn bà hai bát bánh đúc. Anh vui vẻ đưa ba câu hò trêu chọc mà cô Thị sẵn sàng theo về làm vợ. Tràng có vợ, như một anh chàng tốt số đào hoa, chỉ buông đôi lời tán tỉnh mà đã có cô nàng vội vã theo không.

Giữa cảnh trời đất tối sầm vì đói khát, những ngày nghèo đói, hai thân phận bọt bèo đã dạt đến với nhau vì khát vọng hạnh phúc lứa đôi, vì mong hơi ấm gia đình. Dẫn người vợ nhặt về nhà, Tràng ngổn ngang những suy nghĩ thời buổi này còn đèo bòng, không biết nuôi nổi không rồi lại tặc lưỡi cho qua và gương mặt hiện rõ niềm vui. Trong tác phẩm, hơn một lần nhà văn nói về hạnh phúc, nụ cười của Tràng từ e lệ cười tủm tỉm đến bật cười đầy thỏa mãn, khi thì hai mắt sáng lên lấp lánh, có lúc mặt vênh lên tự đắc với mình. Dường như anh quên hết cảnh sống ê chề hàng ngày, quên cả đói khát ghê gớm đang rình rập. Từ khi có vợ, Tràng nhận ra trách nhiệm của bản thân với gia đình. Anh biết chăm lo cho đêm tân hôn có chút dầu đèn cho sáng sủa để hạnh phúc không tối xùm trong hoàn cảnh bi đát.

Ta thấy Tràng hết sức trân trọng hạnh phúc của mình. Đặc biệt trong buổi sáng đầu tiên khi đã nên vợ nên chồng, nhìn người vợ mới quét dọn sân nhà, Tràng cảm thấy ngập tràn niềm yêu thương và thấy bản thân như “lớn hẳn”, cũng như trách nhiệm cùng lớn dần lên. Trong bữa cơm đầu tiên, Tràng nghe chuyện vui mẹ kể về tương lai, biết được việc nhân dân phá kho thóc Nhật và khi ấy hình ảnh lá cờ đỏ bỗng phấp phới trong óc Tràng. Đây không phải một ước mơ viển vông, một ảo tưởng cổ tích mà nó cơ sở hiện thực, chính nhà văn đã nhìn thấy mà mở ra cho nhân vật của mình một hướng đi. Rõ ràng, Tràng đã có được hạnh phúc gia đình, có hơi ấm của tình thương. Qủa đúng, dù trong túng đói tột cùng thì tình cảm vẫn quý hơn manh áo nó khiến con người được sống là chính mình, được nên người.

Tràng cũng chính là chân dung của những người lao động sống trong nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu. Họ nghèo mà không hèn, nghèo bạc chứ không nghèo tình. Họ luôn sống với nhau bằng chữ “tình”, bằng chân thành, bằng yêu thương, san sẻ và đùm bọc. Con người là biểu trưng của hy vọng, lạc quan, hướng về ánh sáng, nhìn đến tương lai và tin tưởng tuyệt đối vào Cách mạng.

Bài văn phân tích nhân vật tràng trong vợ nhặt mẫu 6
7

Bài văn phân tích nhân vật tràng trong vợ nhặt mẫu 7

- Tên tác phẩm: Vợ Nhặt

- Tác giả: Kim Lân

- Vài nét về tác phẩm: Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của nhà văn Kim Lân khi viết về đề tài cuộc sống của người nông dân Việt Nam trong thời kỳ nạn đói khủng khiếp năm 1945. Bối cảnh bao trùm lên tác phẩm là một màu u ám của sự đói khổ thê lương của những người nông dân nghèo.

- Nội dung cần phân tích: Hắn nhận thấy ngôi nhà mới thực sự là tổ ấm của mình, lâu nay hắn vẫn ở trong ngôi nhà ấy nhưng hôm nay: "bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng." Đó chính là một gia đình, một nguồn vui sống, phấn chấn khi hắn cảm nhận được hạnh phúc một gia đình. Bấy giờ hắn mới nhận thấy hắn "nên người", hắn nhận thấy hắn có bổn phận chăm lo cho vợ con sau này.

Vợ Nhặt là một tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Kim Lân, tác phẩm xuất sắc cho văn học Việt Nam được sáng tác năm 1945 giữa nạn đói khủng khiếp, thể hiện nội dung nhân đạo sâu sắc trong từng câu văn, hình ảnh, chi tiết của tác phẩm. Qua đó, người đọc ấn tượng với nhân vật Tràng, từ ngoại hình tính cách, gia cảnh, đến việc quan trọng nhất đời người là lấy vợ.

Truyện xoay quanh tình huống anh Tràng nhặt được vợ trong hoàn cảnh đói khát. Ở nhân vật này, nhà văn đã miêu tả với nhiều chi tiết nói về ngoại hình, tính cách, gia cảnh nhưng gần như tạo hóa không cho anh ta một điểm đáng tự hào nào cả: người thô kệch, lưng rộng như lưng gấu, đầu trọc, nhà nghèo, dân ngụ cư, nghèo kiết xã, thô. Điểm ấn tượng nhất về bề ngoài là sự ngờ nghệch có cái tật vừa đi, vừa nói, vừa cười tủm tỉm một mình.

Hơn nữa, Tràng sống với mẹ, nghèo đến nỗi cái nhà hắn ở "rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại" mẹ góa con côi. Tuy nhiên ở Tràng cũng có điểm đáng quý: vui vẻ, dễ gần, tốt bụng đối với lũ trẻ con trong xóm vẫn xúm lại trêu đùa. Anh ta không bao giờ dám nghĩ đến chuyện mình có thể lấy nổi vợ; tức là anh ta đã ế vợ và không có khả năng lấy được vợ. Hơn nữa đang trong thời điểm tất cả mọi người đều rơi vào nạn đói thê thảm.

Thế mà anh ta lại nhặt được vợ một cách rất dễ dàng ngay giữa đường, giữa chợ chỉ qua vài câu nói tầm phơ tầm phào. Đã có người theo không về làm vợ, điều đó thật bất ngờ nhưng là niềm vui, hạnh phúc tột đỉnh trong cuộc đời của Tràng. Hoàn cảnh nạn đói ghê gớm, bản thân Tràng lại rất nghèo, không biết mình có nuôi nổi mình không cho nên sau lời nói đùa cho vui, Tràng cảm thấy "chợn", sợ đèo bòng. Tuy nhiên anh ta lấy vợ bằng một cái tặc lưỡi: "chậc,kệ!". Cái tặc lưỡi vừa thể hiện sự buông xuôi cho số phận, vừa thể hiện cái liều lĩnh của một kẻ không biết sợ là gì. Đồng thời cũng thể hiện niềm khao khát của một kẻ lần đầu tiên có niềm vui hạnh phúc.

Tràng dẫn vợ về trong niềm vui khác lạ: " Mặt hắn có vẻ gì hớn hở khác thường, hắn tủm tỉm cười nụ một mình, hai mắt thì sáng lên lấp lánh ". Lần đầu tiên có được niềm vui trong cuộc đời cho nên Tràng quên hết những cảnh sống tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói đang đe dọa trước mắt cũng không sợ những ngày tháng đói khổ, ghê sợ ở phía trước…Có cái gì đó mới mẻ, lạ lắm chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy. Đó là cảm giác sung sướng, hạnh phúc của người đàn ông được biết thế nào là hạnh phúc:

"Tràng thích lắm, từ cha mẹ sinh mẹ đẻ đến giờ, chưa có người con gái nào cười với hắn tình tứ như thế.

"Tràng nói đùa…ai ngờ Thị về thật". Đúng là dẫu có cực khổ, cùng quẫn đến đâu, dẫu đói khát đến mấy người ta cũng luôn luôn khao khát hạnh phúc và chỉ nghĩ đến nó thôi đã thấy nó lấn lướt tất cả nỗi sợ hãi, kể cả lưỡi hái tử thần. Chính vì thế dù biết rằng" Thóc gạo này đến cái thân mình còn không biết mình có nuôi nổi không nhưng hắn vẫn chậc kệ đưa Thị về làm vợ.

Khi Thị về nhà hắn, hắn mới thực sự thấy lo, tâm trạng bỗng thiếu tự tin, bối rối như một đứa trẻ. Tràng nóng lòng, sốt ruột, mong mẹ về, khi mẹ về hắn mừng rỡ như đứa trẻ lật đật chạy ra đón. Lúc này tâm trạng của Tràng phức tạp, đan xen rất nhiều cảm xúc: vừa mừng lại vừa lo. Sau phút bối rối khi biết mẹ đã đồng ý.

Như vậy, Tràng đã thay đổi hẳn khi Thị theo về làm vợ. Sáng hôm sau Tràng tỉnh dậy muộn nhưng vẫn chưa hết cảm giác ngỡ ngàng: "Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không phải". Lần đầu tiên trong đời Tràng nhận thấy niềm hạnh phúc thật giản dị đang hiện hữu ngay trong ngôi nhà của mình, vẫn là căn nhà ấy nhưng lâu nay nhếch nhác, bừa bộn nay được mẹ và vợ sắp đặt ngăn nắp, gọn gàng.

Hắn nhận thấy ngôi nhà mới thực sự là tổ ấm của mình, lâu nay hắn vẫn ở trong ngôi nhà ấy nhưng hôm nay: "bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng." Đó chính là một gia đình, một nguồn vui sống, phấn chấn khi hắn cảm nhận được hạnh phúc một gia đình. Bấy giờ hắn mới nhận thấy hắn "nên người", hắn nhận thấy hắn có bổn phận chăm lo cho vợ con sau này.

Như vậy, niềm vui, hạnh phúc làm cho con người ta thay đổi, sự cưu mang, đùm bọc, yêu thương nhau làm cho con người cảm nhận cuộc đời trở nên có ý nghĩa, trở nên tốt đẹp hơn và dẫu cùng đường thì con người ta vẫn luôn yêu đời, nhân hậu, có trách nhiệm hơn, sống tốt hơn trong niềm hạnh phúc.

Có thể nói truyện ngắn “Vợ nhặt” đã xây dựng thành công nhân vật Tràng-một anh nông dân nghèo nhưng giàu lòng yêu thương. Đồng thời qua Tràng nhà văn còn cho thấy sức sống mãnh liệt, diệu kì của con người Việt Nam trong khó khăn cuộc sống. Dường như càng đau khổ, mất mát người ta lại yêu thương nhau nhiều hơn. Và cũng lí giải vì sao dân tộc ta làm làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.

Bài văn phân tích nhân vật tràng trong vợ nhặt mẫu 7
8

Bài văn phân tích nhân vật tràng trong vợ nhặt mẫu 8

- Tên tác phẩm: Vợ Nhặt

- Tác giả: Kim Lân

- Vài nét về tác phẩm: Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của nhà văn Kim Lân khi viết về đề tài cuộc sống của người nông dân Việt Nam trong thời kỳ nạn đói khủng khiếp năm 1945. Bối cảnh bao trùm lên tác phẩm là một màu u ám của sự đói khổ thê lương của những người nông dân nghèo.

- Nội dung cần phân tích: Tràng cần một người vợ để biết đến hạnh phúc còn Thị - người đàn bà nghèo ấy cần một chỗ dựa để qua khỏi hoàn cảnh đói kém, một sự chở che. Đây chính là cuộc sống thường nhật trên đời. Trên đường Tràng đưa thị về nhà, Tràng thật sự rất vui và hạnh phúc

Kim Lân thuộc hàng những cây bút truyện ngắn tài năng của văn học Việt Nam hiện đại. Ông thường viết về nông thôn và những con người dân quê, lam lũ hồn hậu, chất phác mà giàu tình yêu thương. Vợ nhặt là một trong những sáng tác tiêu biểu của ông. Tác phẩm đã khắc hoạ thành công nhân vật Tràng, một người lao động nghèo khổ nhưng giàu tình yêu thương, luôn khao khát hạnh phúc gia đình giản dị, biết hướng tới tương lai tươi đẹp.

Trong truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân bộc lộ một quan điểm nhân đạo sâu sắc của mình. Nhà văn phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của người lao động trong sự túng đói quay quắt, trong bất kì hoàn cảnh khốn khổ nào, con người vẫn vượt lên cái chết, hướng về cuộc sống gia đình, vẫn yêu thương nhau và hi vọng vào ngày mai. Tiêu biểu cho những con người đó là nhân vật Tràng.

Tràng được khắc hoạ nổi bật trong bối cảnh ngày đói vô cùng thê thảm ở nông thôn Việt Nam do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra năm 1945. Những người năm đói được miêu tả với “khuôn mặt hốc hác u tối”, “Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma”, và “bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma”. Trong không gian của thế giới ngổn ngang người sống kẻ chết ấy, tiếng quạ “gào lên từng hồi thê thiết” cùng với “mùi gây của xác người” càng tô đậm cảm giác tang tóc thê lương.

Cái đói huỷ diệt cuộc sống tới mức khủng khiếp. Trong một bối cảnh như thế Kim Lân đặt vào đó một mối tình thật là táo bạo, dở khóc, dở cười giữa Tràng và Thị, một mối duyên bắt nguồn từ bốn bát bánh đúc giữa ngày đói. Kim Lân đã tạo nên một tình huống độc đáo: Tràng nhặt được vợ để từ đó làm nổi bật khao khát hạnh phúc, tình yêu thương, cưu mang đùm bọc lẫn nhau của những con người đói. Ngay cái nhan đề Vợ nhặt đã bao chứa một tình huống như thế : nhặt tức là nhặt nhạnh, nhặt vu vơ. Trong cảnh đói năm 1945, người dân lao động dường như khó ai thoát khỏi cái chết, giá trị một con người thật vô cùng rẻ rúng, người ta có thể có vợ theo, chỉ nhờ có mấy bát bánh đúc ngoài chợ.Như vậy thì cái thiêng liêng (vợ) đã trở thành rẻ rúng (nhặt). Nhưng tình huống truyện còn có một mạch khác: chủ thể của cái hành động “nhặt” kia là Tràng, một gã trai nghèo, xấu xí, dân ngụ cư, đang thời đói khát mà đột nhiên lấy được vợ, thậm chí được vợ theo thì quả là điều lạ.

Lạ tới mức nó tạo nên hàng loạt những kinh ngạc cho hàng xóm, bà cụ Tứ – mẹ Tràng và chính bản thân Tràng nữa. Tình huống truyện trên đã khơi ra mạch chảy tâm lí cực kì tinh tế ở mỗi nhân vật, đặc biệt là Tràng. Anh cu Tràng cục mịch, khù khờ, bỗng nhiên trở thành người thực sự hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc lớn quá, đột ngột quá, khiến Tràng rất đỗi ngỡ ngàng “đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?”. Rồi cái ngỡ ngàng trước hạnh phúc kia cũng nhanh chóng đẩy thành niềm vui hữu hình cụ thể. Đó là niềm vui về hạnh phúc gia đình – một niềm vui giản dị nhưng lớn lao không gì sánh nổi…

Chàng thanh niên nghèo khó “Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Mặc dù người vợ được hắn nhặt về, nhưng Tràng không hề rẻ rúng, khinh miệt thị. Trái lại, Tràng vô cùng trân trọng, coi chuyện lấy thi là một điều nghiêm túc. Khát vọng mái ấm gia đình đã khiến Tràng vượt qua lo lắng về cái đói “ đến thân còn chẳng lo nổi, lại còn đèo bòng”. Tràng chậc lưỡi “ kệ” cái đói, mua cho thị cái thúng con, vài xu dầu và dẫn thị về căn nhà lụp xụp rách nát của mẹ con mình. Tràng hồi hộp chờ câu đồng ý chấp thuận của bà cụ Tứ.

Buổi sáng hôm sau, Tràng thấy khoan khoái như người từ trong giấc mơ đi ra. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Đó là một điều thật bình dị nhưng có ý nghĩa vô cùng lớn lao trong cuộc đời Tràng. Hắn thấy hắn nên người. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng”.\Một niềm vui thật cảm động, lẫn cả hiện thực lẫn giấc mơ. Chi tiết: “Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà” là một đột biến quan trọng, một bước ngoặt đổi thay cả số phận lẫn tính cách của Tràng: từ khổ đau sang hạnh phúc, từ chán đời sang yêu đời, từ ngây dại sang ý thức. Tràng đã có một ý thức bổn phận sâu sắc: “hắn thấy hắn có bổn phận lo lắng cho vợ con sau này”. Tràng thật sự “phục sinh tâm hồn” đó là giá trị lớn lao của hạnh phúc. 

Câu kết truyện “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phớichứa đựng bao sức nặng về nghệ thuật và nội dung cho thiên truyện. Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng là tín hiệu thật mới mẻ về một sự đổi thay xã hội rất lớn lao, có ý nghĩa quyết định với sự đổi thay của mỗi số phận con người. Đây là điều mà các tác phẩm văn học hiện thực giai đoạn 1930 – 1945 không nhìn thấy được. Nền văn học mới sau Cách mạng tháng tám đã đặt vấn đề và giải quyết vấn đề số phận con người theo một cách khác, lạc quan hơn, nhiều hi vọng hơn.

Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, là tác phẩm giàu giá trị hiện thực, nhân đạo; là bài ca về tình người ở những người nghèo khổ, ca ngợi niềm tin bất diệt vào tương lai tươi sáng của con người. Truyện xây dựng thành công hình tượng nhân vật Tràng, một người lao động nghèo khổ mà ấm áp tình thương, niềm hi vọng, lạc quan qua cách dựng tình huống truyện và dẫn truyện độc đáo, nhất là ngòi bút miêu tả tâm lí tinh tế, khiến tác phẩm mang chất thơ cảm động và hấp dẫn.

Bài văn phân tích nhân vật tràng trong vợ nhặt mẫu 8
9

Bài văn phân tích nhân vật tràng trong vợ nhặt mẫu 9

- Tên tác phẩm: Vợ Nhặt

- Tác giả: Kim Lân

- Vài nét về tác phẩm: Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của nhà văn Kim Lân khi viết về đề tài cuộc sống của người nông dân Việt Nam trong thời kỳ nạn đói khủng khiếp năm 1945. Bối cảnh bao trùm lên tác phẩm là một màu u ám của sự đói khổ thê lương của những người nông dân nghèo.

- Nội dung cần phân tích: Tràng là một người giàu tình cảm, với mẹ, với vợ. Cái đói nghèo khắc nghiệt dường như không thể ngăn cản được con người chúng ta yêu nhau nhiều hơn là vì thế. Bằng bút pháp tả thực cùng cách xây dựng tình huống truyện độc đáo, tái hiện diễn biến tâm lý nhân vật một cách cụ thể sắc nét nhất. Kim Lân đã vẽ lên hình ảnh một người nông dân nghèo đói, bần hàn nhưng có cái tâm sáng, giàu tình yêu thương.

 Kim Lân là nhà văn lão làng trong nền văn học hiện thực Việt Nam. Ngòi bút của ông hướng đến những mảnh đời bất hạnh, làng quê Việt Nam, những người nông dân chân chất mộc mạc, nghèo đói nhưng tràn đầy tình yêu. Truyện ngắn “Vợ nhặt” là một trong những kiệt tác tái hiện lại chân thực nhất hình ảnh người nông dân sống trong nạn đói năm 1945. Đặc biệt tác giả đã khắc họa thành công diễn biến tâm lý của nhân vật chính: anh cu Tràng.

Truyện ngắn “Vợ nhặt” lấy bối cảnh là nạn đói thê thảm, người chết như ngả rạ tại một xóm ngụ cư tiêu điều xác xơ. Nhan đề của tác phẩm đã làm toát lên tư tưởng chủ đạo xuyên suốt tác phẩm, nhan đề cũng chính là tình huống truyện độc đáo, đặc sắc làm đòn bẩy đề tác giả có thể vẽ lên được tâm lý của từng nhân vật.

Thành công của Kim Lân chính là việc khắc họa được những phẩm chất cao quý bên trong những con người nông dân nghèo đói, bần cùng. Tràng là nhân vật chính xuyên suốt tác phẩm, Kim Lân đã mượn hình ảnh anh cu Tràng để lột tả lên được diễn biến tâm lý của nhân vật từ chuyển biến này đến chuyển biến khác.

Tràng là người đàn ông nghèo khổ, rách rưới, sống với mẹ già. Tràng xuất hiện ngay từ đầu tác phẩm bằng vài nét chấm phá của tác giả “hắn bước ngật ngưỡng trên con đường khẳng khiu luồn qua cái xóm chợ của những người ngụ cư vào trong bến. Hắn vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai còn mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho cái bộ mặt thô kệch của bắn lúc nào cũng nhấp nhô những ý nghĩ thú vị…”.

Chỉ với những chi tiết đó, Kim Lân đã khéo léo vẽ lên một hình tượng anh nông dân nghèo, cô quạnh giữa không gian xóm ngụ cư tiêu điều. Anh cu Tràng dường như khiến người đọc liên tưởng đến nhân vật Chí Phèo của Nam Cao khi xuất hiện ở đầu tác phẩm với điệu bộ “Hắn vừa đi vừa chửi, hắn chửi trời, chửi đất, chửi cái đứa nào đẻ ra hắn…”. Người nông dân trong xã hội phong kiến đều có chung một số phận, chung một điều kiện sống, nhưng họ khác nhau ở cách nghĩ, cách lựa chọn làm người. Tuy nhiên trong bối cảnh xã hội khắc nghiệt, dở khóc dở cười như vậy Kim Lân đã xây dựng nên tình huống truyện có thể xem là mở nút của mọi vấn đề.

Anh cu Tràng “nhặt” được vợ, là nhặt được chứ không phải cưới được mới lạ chứ. Một kẻ xấu xí, nghèo đói, bần cùng, thô kệch như Tràng mà cũng có được vợ trong tình cảnh thê thảm của xã hội như thế này, lại còn được vợ theo. Quả đúng là đám cưới có một không hai trong xã hội hiện nay. Nạn đói đã đưa những con người chung cảnh ngộ, nghèo đói đến với nhau. Có thể nói rằng tình huống truyện này cực kỳ đắt giá, làm đòn bẩy để Kim Lân có thể qua đó bộc lộ, lột tả được hết tính cách và nhân phẩm của người đàn ông nghèo vừa nhặt được vợ này.

Đặc biệt hơn nữa diễn biến tâm lí nhân vật Tràng thay đổi từ khi “nhặt” được vợ, lúc đó hắn không nghĩ gì hơn ngoài việc nghĩ đến người đàn bà đi bên cạnh “Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chè, tăm tối hằng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mắt. Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên”. Những rung động và cảm xúc rất đời thực của một người đàn ông. Hắn trở nên hiền lành và đáng mến, không phải tình yêu có thể con người ta vui vẻ, có khi chỉ là chút tình nghĩa cỏn con cũng khiến cho bản thân thay đổi theo hướng tích cực.

Diễn biến của anh cu Tràng cứ thể chuyển biến đột ngột, đến khi về đến ngôi nhà, khi thấy một người đàn bà ngồi ngay giữa nhà, hắn mới “ngờ ngợ như không phải thế. Ra là hắn đã có vợ rồi đấy ư”. Chính hắn cũng không tin nổi là mình đã có vợ, mọi thứ đến nhanh và bất ngờ quá khiến cho cả hắn và thị đều không định hình nổi có phải là sự thật.

Một sự “ngờ ngợ” rất đáng yêu và đáng trân trọng. Đặc biệt trong đoạn thoại Tràng trò chuyện với mẹ, người ta nhận ra kẻ nông dân nghèo đói này lại có một trái tim và tấm lòng sáng, vẹn tròn, dung dị như vậy. Anh vừa xót thương cho thân phận người đàn bà xa lạ nghèo khổ ấy, nhưng duyên số đưa đẩy hai người đến với nhau nên hắn đón nhận như một điều trời ban.

Thế là hắn có vợ rồi, đến buổi sáng hôm sau hắn vẫn cảm thấy mình như đang ở trong mơ “Trong người êm ái lơ lửng như vừa ở trong giấc mơ đi ra. Hắn vẫn chưa tin việc mình có vợ. Hắn chớp chớp liên hồi mấy cái, và bỗng vừa chợt nhận ra, xung quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới mẻ, khác lạ…”. Một cuộc sống mới đã đến với hắn trong niềm vui lạ và phấn khởi.

Hắn chấp nhận cuộc sống khốn khó cùng vợ vượt qua tất cả. Cái cách vợ chồng Tràng cùng ăn bữa cơm đầu tiên sau đêm tân hôn thực sự khiến người đọc cảm động. Mặc dù “nồi cháo cám” không ngon, đắng chát và khó ăn nhưng hắn vẫn ăn rất ngon lành. Vì hắn biết, hắn hiểu gia cảnh, hiểu xã hội, hiểu thời thế đang trong cảnh bần hàn.

Tràng là một người giàu tình cảm, với mẹ, với vợ. Cái đói nghèo khắc nghiệt dường như không thể ngăn cản được con người chúng ta yêu nhau nhiều hơn là vì thế. Bằng bút pháp tả thực cùng cách xây dựng tình huống truyện độc đáo, tái hiện diễn biến tâm lý nhân vật một cách cụ thể sắc nét nhất. Kim Lân đã vẽ lên hình ảnh một người nông dân nghèo đói, bần hàn nhưng có cái tâm sáng, giàu tình yêu thương.

Bài văn phân tích nhân vật tràng trong vợ nhặt mẫu 9
10

Bài văn phân tích nhân vật tràng trong vợ nhặt mẫu 10

- Tên tác phẩm: Vợ Nhặt

- Tác giả: Kim Lân

- Vài nét về tác phẩm: Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của nhà văn Kim Lân khi viết về đề tài cuộc sống của người nông dân Việt Nam trong thời kỳ nạn đói khủng khiếp năm 1945. Bối cảnh bao trùm lên tác phẩm là một màu u ám của sự đói khổ thê lương của những người nông dân nghèo.

- Nội dung cần phân tích: 

Truyện ngắn Vợ nhặt Truyện ngắn Vợ nhặt được in trong tập Con chó xấu xí (1962). Tác phẩm này có tiền thân là tiểu thuyết Xóm ngụ cư, được viết ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công. Tiểu thuyết Xóm ngụ cư lấy bối cảnh nạn đói 1945 nhưng sau đó bị lạc mất bản thảo. Năm 1954, Kim Lân dựa vào một phần cốt truyện cũ và viết nên tác phẩm hoàn chỉnh như hiện tại. Trong quá trình cảm nhận về nhân vật Tràng, ta thấy ngay từ nhan đề “Vợ nhặt”, tác giả đã gây một ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc. Bởi lẽ, cưới vợ vốn là một việc trọng đại trong đời người, được tiến hành một cách thận trọng trang nghiêm. Đối lứa đến với nhau thường thông qua một quá trình tìm hiểu kỹ càng hay có sự mai mối. Thế mà, ở đây lại là nhặt vợ.

Kim Lân sinh năm 1920, mất năm 2007. Kim Lân tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở Bắc Ninh. Năm 1944, Kim Lân tham gia hội văn hóa cứu quốc, sau đó ông lại liên tục hoạt động văn nghệ để phục vụ kháng chiến. Kim Lân tuy không sáng tác nhiều nhưng mỗi tác phẩm của ông đều để lại ấn tượng sâu sắc cho người đọc, ghi dấu ấn trên văn đàn.

Trước cách mạng tháng tám, Kim Lân chủ yếu viết về cuộc sống hiện tại tiêu điều ảm đạm của nông thôn Việt Nam nhưng đồng thời ông cũng tái hiện lại những nét sinh hoạt văn hóa phong phú. Từ đó, ông thể hiện vẻ đẹp nội tâm của người nông dân trước cách mạng tuy sống trong đói khổ nhưng vẫn yêu đời vẫn giữ được vẻ đẹp của mình. Sáng tác của Kim Lân trong giai đoạn này có thể kể đến Đứa con người vợ lẽ, Đứa con người cô đầu, Đôi chim thành, Con mã nhái, Chó săn,… Sau cách mạng tháng tám, ông tiếp tục làm báo viết văn.

Tác phẩm phải kể đến trong giai đoạn này là các tập truyện ngắn Nên vợ nên chồng (1955), Con chó xấu xí (1962). Năm 2001, ông được nhận giải thưởng nhà nước về Văn học nghệ thuật.  . Nhặt thường gợi ra việc vô tình nhặt được một cách dễ dàng, thường là những thứ nhỏ nhoi không có giá trị. Có ai có thể tưởng tượng được vợ cũng có thể nhặt được như nhặt rơm nhặt rác bên đường. Nhan đề “Vợ nhặt” đã phần nào nói lên thân phận rẻ rúng bèo bọt của người phụ nữ trong hoàn cảnh xã hội đương thời – nạn đói 1945. Truyện kể về một gia đình nghèo trong nạn đói 1945. Tràng là một thanh niên chưa vợ, sống cùng mẹ ở xóm ngụ cư. Trong lúc cái đói đang diễn ra, thì Tràng lại dắt thêm một người phụ nữ về nhà làm vợ. Trước tình cảnh ấy, không chỉ người dân xóm ngụ cư mà cả mẹ Tràng là bà cụ Tứ cũng rất ngạc nhiên. Nhưng cuối cùng với tấm lòng cảm thông sâu sắc, mẹ Tràng đã đồng ý. Và họ bắt đầu xây dựng một cuộc sống mới với niềm tin hy vọng về tương lai.

Để động viên hai con, bà nói toàn về những chuyện vui. Tràng cảm thấy con người mình đổi khác. Từ niềm vui đến nỗi lo âu và Tràng thấy mình cần phải có trách nhiệm trong cuộc sống gia đình hiện tại và tương lai, dù đêm đầu tiên của đôi vợ chồng trẻ qua đi trong không khí khét lẹt mùi chết chóc và tiếng hờ khóc ai. Bà mẹ Tràng đãi hai con ít cháo và "nồi chè đặc biệt". Miếng cám chát bứ, nghẹn cổ nhưng mọi người đều thoáng thấy có một niềm vui. Cả mẹ con đều bắt tay vào việc dọn dẹp, quét tước nhà cửa, vườn tược cho quang quẻ, hướng về một cuộc sống đổi khác.

Trong óc Tràng hiện ra đám người phá kho thóc của Nhật và lá cờ đỏ sao vàng bay phất phới. Tràng là một con người lao động nghèo khổ, hởi bất bình thường lại có ngoại hình xấu xí "hai con mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho bộ mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ gì vừa lí thú, vừa dữ tợn. Hắn có tật vừa đi vừa nói. Hắn lảm nhảm than thở những điều hắn nghĩ".

Cuộc sống lao động vất vả, nghèo đói đã in hằn dấu ấn trên từng bước đi của hắn đè nặng xuống cái lưng to nặng của hắn: "Tràng đi từng bước mệt mỏi, chiếc áo nâu tàn vắt sang một bên cánh tay, cái đầu trọc nhẵn chúi về đằng trước. Hình như những lo lắng chật vật trong một ngày đè xuống cái lưng to rộng, như lưng gấu của hắn". Trong hoàn cảnh ấy, Tràng chưa bao giờ nghĩ đến chuyện mình sẽ có vợ. Nhưng rồi một hôm "hắn đang gò lưng kéo cái xe bò thúc vào dốc đỉnh, hắn hò một câu chơi cho đỡ nhọc".

Hắn hò rằng: Muốn ăn cơm trắng mấy giò này! Lại đây mà đẩy xe bò với anh, ni!... Thế mà lại có một người phụ nữ ra đẩy xe với hắn. Rồi mấy hôm sau gặp lại, hắn đãi người phụ nữ ấy bốn bát bánh đúc và người phụ nữ ấy đồng ý theo hắn về làm vợ hắn. Và "việc xảy ra thật hắn cũng không ngờ, hắn cũng chỉ tầm pha tầm phào đâu có hai bận ấy thế mà thành vợ thành chồng". Trước tình cảnh ấy, lúc đầu Tràng đâm lo, đâm sợ nhưng rồi cái khát vọng về một mái ấm gia đình, một cuộc sống hạnh phúc bừng dậy mãnh liệt trong lòng Tràng, xua tan bao nỗi lo sợ ấy.

Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mặt. Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên. "Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng".

Tràng đã tìm thấy niềm vui, niềm hạnh phúc bên người "vợ nhặt" của mình. Khuôn mặt của Tràng bây giờ tươi tỉnh hẳn lên "hắn cười khì khì" mặc dù cái đêm đầu tiên với người "vợ nhặt" ấy đi qua trong "tiếng hờ khóc tỉ tê" và "diều quạ trên mấy cây ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết" như tiếng gọi của thần chết. Và sáng ra, Tràng "bỗng vừa chợt nhận ra xung quanh mình cái gì vừa thay đổi mới mẻ, khác lạ. Nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ, gọn gàng...".

Tràng nhìn người mẹ đang lúi húi giẫy cỏ, nhìn vợ quét lại cái sân. Cảnh tượng thật đơn giản, bình thường nhưng đã gợi lên trong lòng Tràng một sự thấm thía cảm động. Tràng như chợt hiểu ra thế nào là hạnh phúc? Trong lòng Tràng lại dậy lên một lòng yêu thương, gắn bó với người vợ Tràng, với gia đình Tràng. Tràng lại nghĩ về tương lai và thấy rõ cái bổn phận và trách nhiệm của mình trong việc tạo lập cuộc sống hạnh phúc cho tương lai: "Bỗng nhiên hắn thấy hắn yêu thương, gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưu che nắng.

Một niềm vui sướng phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bốn phận lo lắng cho vợ con sau này...". Bữa ăn ngày đói trông thật thảm hại, chỉ có lưng bát cháo và món "chè đặc biệt" - miếng cám đắng chát và nghẹn bứ trong cổ. Tràng cảm thấy một nỗi xót xa tủi hờn len vào trong tâm trí, nhưng rồi "trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới".

Điều đó cho ta thấy dù trong hoàn cảnh khó khăn, đói kém, niềm khao khát về một cuộc sống hạnh phúc gia đình vẫn không hề mờ đi trong tâm hồn Tràng và vẫn bùng lên mãnh liệt. Tóm lại, Tràng là hình tượng nhân vật trung tâm của truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân. Tràng là nhân vật điển hình cho người nông dân lao động nghèo khổ, dù bất cứ trong hoàn cảnh đen tối nào vẫn luôn luôn khao khát một cuộc sống hạnh phúc gia đình và tin vào cuộc sống ở tương lai. Kim Lân đã khá thành công khi xây dựng hình tượng nhân vật Tràng. Ông đã mô tả tâm lí nhân vật thật sâu sắc. Ông đã đi sâu vào bên trong tâm hồn của mỗi nhân vật trong truyện nói chung và đối với nhân vật Tràng nói riêng, để phát hiện và mô tả những tình tiết cảm động và khát vọng mãnh liệt của những con người nghèo khổ về một cuộc sống hạnh phúc.

Những tình tiết xoay quanh hình tượng nhân vật Tràng được nhà văn sắp xếp một cách chặt chẽ hợp lí, tập trung biểu hiện rõ chủ đề của câu chuyện. Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn khá thành công của Kim Lân. Truyện vừa có giá trị hiện thực, vừa có giá trị nhân đạo sâu sắc.

Bài văn phân tích nhân vật tràng trong vợ nhặt mẫu 10

"Vợ nhặt" là một trong những tác phẩm tiêu biểu của văn học thời kháng chiến cứu nước tuy nhiên nội dung và giá trị của nó vẫn tỏa sáng cho đến đận thời điểm hiện tại. Nhân vật Tràng với ngoại hình xấu xí, gia cảnh khốn cùng nhưng lại có một tâm hồn đẹp đẽ, giàu tình thương , sự lạc quan khiến chúng ta phải ghen tị. Hy vọng sau khi tham khảo danh sách top 10 bài văn phân tích nhân vật Tràng trong "Vợ nhặt"hay nhất trên, bạn sẽ phần nào hiểu và cảm thụ tốt hơn nội dung tác phẩm, tìm được ý tưởng cho bài văn của chính mình. 

Đánh giá:

Bình luận

Vui lòng đăng nhập để bình luận.

Hãy để lại bình luận của bạn tại đây!

Báo lỗi

Nội dung báo lỗi là bắt buộc!

Thông báo