Top 10 bài văn phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia hay nhất

"Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp". Đó là câu nổi tiếng của Tiến sĩ triều Lê - Thân Nhân Trung vâng mệnh vua Lê Thánh Tông soạn bài ký cho tấm bia Văn Miếu, tại Quốc Tử giám, cách đây 537 năm (1484 - 2021). Tác phẩm đã nêu lên ý nghĩa và mục đích của việc dựng bia tiến sĩ. Muốn đất nước yên bình thì việc đầu tiên là phải tôn vinh những hiền tài có công lớn với đất nước, ghi công để khích lệ động viên họ. Để hiểu rõ thêm về tác phẩm chúng ta cùng tham khảo top 10 bài văn phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia mà chúng tôi đã tổng hợp dưới đây nhé!

1

Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia - Bài mẫu số 1

Tên tác phẩm: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia

Tác giả: Thân Nhân Trung (1418 - 1499)

Vài nét về tác phẩm: "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia" là một tác phẩm không chỉ dừng lại trong xã hội thời Lê mà tác phẩm ấy đối với chúng ta vẫn còn nguyên giá trị khi mà trong xã hội hiện nay giáo dục trở thành quốc sách hàng đầu.

Nội dung phân tích: Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.

Thân Nhân Trung là một vị quan đại triều có uy tín về đức độ, tài năng và là một nhà giáo mẫu mực của thời đại. Ông để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ, trong số đó "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia" là một tác phẩm tiêu biểu. Nó không chỉ dừng lại trong xã hội thời Lê mà tác phẩm ấy đối với chúng ta vẫn còn nguyên giá trị khi mà trong xã hội hiện nay giáo dục trở thành quốc sách hàng đầu.

Tác phẩm đã nêu lên ý nghĩa và mục đích của việc dựng bia tiến sĩ. Muốn đất nước yên bình thì việc đầu tiên là phải tôn vinh những hiền tài có công lớn với đất nước, ghi công để khích lệ động viên họ. Câu mở đầu tác phẩm khiến chúng ta càng thêm khâm phục sự tài đức và khéo léo trong lối hành văn của ông "Tôi dẫu nông cạn vụng về nhưng đâu dám từ chối xin kính cẩn chấp tay cúi đầu mà làm bài kỉ" thiện sự khiêm tốn của người viết. Sau đó ông khẳng định tầm quan trọng của hiền tài đối với sự suy vong của đất nước.

Những từ ngữ với kết cấu chặt chẽ, hợp lý rõ ràng bắt đầu được đưa ra với đầy sức thuyết phục "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xống thấp…". Tác giả nói đến hiền tài là để chỉ những người có tài cao học rộng và có đạo đức. Hiền tài là nguyên khí nghĩa là khẳng định những người có tài cao học rộng và có đạo đức sẽ làm nên vận mệnh của đất nước. Người hiền tài có vai trò quyết định đến sự suy thịnh của đất nước. Hiền tài dồi dào thì đất nước hưng thịnh, hiền tài cạn kiệt thì đất nước suy yếu, người hiền tài chính là sự kết tụ của tinh hoa đất trời và của dân tộc.

Sau đó ông khẳng định ông nêu việc đào tạo nhân tài là một việc rất quan trọng "Vì vậy các đấng thánh đế minh chẳng ai là không lấy việc bồi dưỡng nhân tài kén chọn kẻ sĩ vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên". Tiếp đó để làm sáng hơn cho luận điểm, ông viết "đã yêu mến cho khoa danh lại đỗ cao bằng tước trật ban ân rất lớn mà vẫn cho là chưa đủ. Lại nêu tên tháp ở Pháp Nhạn ban cho Danh hiệu Long hổ bày tiệc Văn hỉ".

Sau mỗi khoa thi. Triều đình mừng được người tài không có việc gì lắm đến mức cao nhất. Bằng lối hành văn súc tích, tác giả đã nêu bật lên vai trò của các bậc hiền tài. Nhưng tác giả cũng cho rằng những thiết đãi, trọng dụng của triều đình với các bậc hiền tài như thế vẫn là chưa đủ so với sự chăm lo cống hiến của các bậc hiền tài cho đất nước.

Tác giả nêu rằng như vậy ta phải khắc tên bia đá cho các chiến sĩ để tên tuổi và công danh của các bậc hiền tài được lưu tiếng thơm đến muôn đời sau, và cũng để cho xứng với sự cống hiến của các bậc hiền tài cho đất nước, khích lệ những người tài ở khắp mọi nơi trên đất nước thấy được sự trọng dụng nhân tài của triều đình mà ra sức giúp vua giúp nước xây dựng non sống mở mang bờ cõi "Nay thánh minh lại cho rằng chuyện hay việc tốt tuy có một thời lừng lẫy những lời khen tiếng thơm chưa đủ để lưu vẻ sáng lâu dài, cho nên dựng đá để danh đặt ở cửa hiền quan khiến cho kẻ sĩ trông vào mà phấn trấn hâm mộ rèn luyện danh tiết ráng sức giúp vua. Há chỉ là chuộng văn suông ham tiếng hão mà thôi đâu. "Vậy còn trách nhiệm của kẻ sĩ chốn lều tranh là phải như thế nào? Là phải "ra sức báo đáp" ân đức của thánh đế của triều đình.

Thân Nhân Trung tiếp tục ngợi ca các bậc hiền tài đức độ "Có người đã đem văn học, chính sự ra tô điểm cho cảnh trị bình suốt mấy chục năm, được quốc gia tin dùng" bên cạnh đó tác giả cũng đem lời chỉ trích với những kẻ âm mưu, mưu đồ hại nước "Cũng không phải có những kẻ vì nhận hối lộ mà hư hỏng hoặc rơi vào hàng ngũ bọn gian ác". Và ông tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của việc khắc bia mộ một lần nữa Có lẽ vì lúc sống họ chưa được nhìn thấy tấm bia này.

Vì thế hồi đó được mắt thấy thì lòng thiện tràn đầy, ý xấu ngăn chặn đâu còn dám nảy sinh như vậy được thế thì việc khắc bia mộ lợi ích rất nhiều "kẻ ác lấy đó làm răn, người thiện theo đó mà gắng dẫn việc dĩ vãng, chỉ lối tương lai, vừa để rèn giũa danh tiếng cho sĩ phu vừa để củng cố mệnh mạch cho nhà nước".

Với lối liệt kê trùng điệp, đối lập kết hợp giọng văn trang trọng cùng lối nói mạch lạc rõ ràng, dễ hiểu đã khiến cho chúng ta thấy được tác dụng to lớn của việc khắc bia mộ. Nhân tài của nước ta không nhiều nhưng cũng không quá hiếm hoi nhưng để họ trở thanh nhân tài thì triều đình,đất nước cần có những chính sách hiệu quả. Tấm bia đá sẽ là lời nhắc nhở các bậc hiền tài có ý thức trách nhiệm của mình đối với sự hưng vong của đất nước.

Đọc tác phẩm "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia" ta hiểu rõ hơn về nền văn hiến của dân tộc, biết được vai trò quan trọng của việc trọng dụng nhân tài và ý nghĩa to lớn của việc lập bia tiến sĩ. Kết cấu đầu cuối của đoạn trích có sự tương ứng và phần trước làm tiền đề cho phần sau bởi mở đầu tác giả khẳng định vai trò của hiền tài "hiền tài là nguyên khí của quốc gia "khẳng định vai trò quan trọng to lớn của hiền tài không bao giờ thay đổi trong mọi thời đại, phần sau Thân Nhân Trung nêu lên ý nghĩa sâu sa của việc khắc bia mộ tiến sĩ.

Với những lập luận hùng hồn, đối lập, nghệ thuật liệt kê trùng điệp đối lập làm lay động lòng người khiến cho các bậc hiền tài ngày càng phấn đấu xây dựng đất nước. Bên cạnh đó tác phẩm không chỉ nhấn mạnh sự quan trọng của hiền tài trong xã hội triều Lê mà trong moi thời đại thì hiền tài luôn giữ một vai trò quan trọng "nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp".

Cuối cùng tác phẩm muốn nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc lập bia tiến sĩ vừa để tạo tiếng thơm, danh tiếng cho người tài vừa để họ một lòng tận trung với nước bên cạnh đó còn để răn dạy những kẻ có ý đồ xấu biết lấy đó mà sáng lòng lương thiện. Vậy việc lập bia đá là hoàn toàn quan trọng và có ý nghĩa to lớn.

Bài viết của Thân Nhân Trung như một tiếng chuông làm thức tỉnh lòng yêu nước, muốn được cống hiến cho đất nước của các bậc hiền tài. Đây không chỉ là bài học về việc xây dựng đất nước giàu mạnh trong xã hội thời Lê mà còn là bài học cho ngày nay khi mà giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu.

Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia - Bài mẫu số 1
2

Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia - Bài mẫu số 2

Tên tác phẩm: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia

Tác giả: Thân Nhân Trung (1418 - 1499)

Vài nét về tác phẩm: Nguyên khí là những sức mạnh tiềm tàng, những sức mạnh ẩn sâu bên trong của đất nước để giúp cho đất nước trở nên hưng thịnh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Những người hiền tài là yếu tố quan trọng để thực hiện sứ mệnh ấy.

Nội dung phân tích: Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.

Vị vua anh minh, lỗi lạc của dân tộc - Nguyễn Huệ - đã từng nói: "Dựng nước lấy việc học làm đầu. Muốn thịnh trị lấy nhân tài làm gốc." Cùng chung quan điểm với Nguyễn Huệ là Mặc Tự. Ông khẳng định: "Đất nước có nhiều người tài, đất nước càng hưng thịnh". Không phải tự nhiên những vị vua, những vị quan của đất nước trong các triều đại đi trước đưa ra lời khẳng định này, mà bởi vì nó chính là một yếu tố cốt lõi trong quá trình dựng nước, giữ nước họ đúc kết ra được.

Mặc dù còn có rất nhiều người cùng chung quan điểm với Mặc Tự và Nguyễn Huệ nhưng khi nhắc đến vấn đề này, ta không thể không nói đến Trần Nhân Tông với câu nói: "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia". Lời tóm lược vừa hay, vừa rõ ràng, thâu đủ các ý từ những người đi trước. Thông qua đó mà ta có thể hiểu rõ được tầm quan trọng của người tài đối với mỗi quốc gia, dân tộc.

Trước hết, ta cần phải làm rõ khái niệm "hiền tài". Hiền tài có nghĩa là gì? Hiền có nghĩa là người hiền lương, người sống có đạo đức, lương thiện. Còn tài ở đây là tài năng, là phẩm chất, là cốt cách của một con người. Vậy nên ta có thể suy ra được hiền tài là những người vừa có tài, vừa có đức như triết lí của Hồ Chủ tịch. Họ là những người có phẩm chất cao quý, có một sự tinh anh, tinh thông, nhìn nhận và đóng góp cho đất nước một cách trung thành, yêu nước thương dân.

Tại sao Trần Nhân Tông lại cho rằng: "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia"? Nguyên khí là những sức mạnh tiềm tàng, những sức mạnh ẩn sâu bên trong của đất nước để giúp cho đất nước trở nên hưng thịnh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Những người hiền tài là yếu tố quan trọng để thực hiện sứ mệnh ấy.

Nhìn lại cả một thời kì lịch sử chói lọi của dân tộc với quá trình dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm, ta có thể khẳng định rằng câu nói của Trần Nhân Tông là hoàn toàn đúng đắn. Các vị vua như Quang Trung, Lí Thái Tổ, Lê Lợi đều là những minh chứng rõ ràng và thuyết phục cho việc sử dụng tài năng, sự mưu trí và đức độ khi trị vì đất nước.

Những người như họ đã góp phần làm nên sự độc lập và phát triển của nước ta trong những thời kì đó. Nhưng không chỉ có những người đứng đầu đất nước mới là những người tài giỏi, ta thấy được ở cấp bậc thấp hơn đó là những vị tướng quân trong triều đình, họ còn góp một phần không nhỏ trong việc bảo vệ đất nước.

Tiêu biểu có thể kể đến như: Lí Thường Kiệt - người đầu tiên đem quân sang Bắc phạt - hay Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị tướng xuất sắc nhất trong lịch sử Việt Nam..... Chính bởi vì có sự hiện diện của họ mà ta mới được như ngày hôm nay.

Tạm gác lại cái nhìn về lịch sử, ta phóng tầm mắt đến hiện tại, Đảng và nhà nước ta vẫn đang nỗ lực không ngừng vì một Việt Nam phát triển, một đất nước đang trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chân lí: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia vẫn luôn là yếu tố tiên phong để phát triển đất nước.

Hằng năm, chúng ta tổ chức biết bao nhiêu cuộc thi để tìm kiếm những người tài giỏi, tạo cơ hội cho họ thể hiện tài năng và phát triển bản thân như: Cuộc thi sáng tạo robocon, thi đấu các giải đấu toán học quốc tế, chương trình Đường lên đỉnh Olympia..... Nhà nước luôn chú trọng vào việc phát triển tài năng, phát triển và đầu tư vào giáo dục.

Nhưng song song cùng với quá trình đi lên này vẫn còn không ít những người tài giỏi đã sang nước ngoài học tập, sinh sống và không quay trở về quê hương nữa. Họ được đất nước tạo điều kiện để nâng cao khả năng, để ra nước ngoài học tập ấy thế mà khi ở trong một môi trường tốt, họ không còn muốn trở về quê hương để cống hiến nữa.

Dù thế giới ngày hôm nay và ngày mai có xoay chuyển và diễn biến phức tạp thì những người hiền tài vẫn sẽ là nhân tố quan trọng trong những hoàn cảnh ấy. Vậy nên, mỗi chúng ta cần không ngừng học tập, trau dồi và nâng cao vốn hiểu biết của bản thân để trở thành một người có ích cho xã hội, khiến cho đất nước đi lên, ngày càng giàu mạnh.

Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia - Bài mẫu số 2
3

Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia - Bài mẫu số 3

Tên tác phẩm: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia

Tác giả: Thân Nhân Trung (1418 - 1499)

Vài nét về tác phẩm: Có thể nói dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, bất kì chế độ nào thì việc đào tạo nhân tài cũng có vai trò vô cùng quan trọng. Nó không chỉ làm cho cuộc sống con người trở nên tốt đẹp hơn mà điều quan trọng nó còn khiến cho vận khí đất nước trở nên phồn vinh hơn.

Nội dung phân tích: Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.

Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã nhìn nhận: “Tuấn kiệt như sao buổi sớm Nhân tài như lá mùa thu” để khẳng định giá trị của những trang nam tử, hảo hán cũng như những người tài trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Từ xưa tới nay, người ta luôn đề cao vai trò của hiền tài trong bất cứ hoàn cảnh, triều đại nào. Cũng bàn về vấn đề này, trong Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại bảo thứ ba - 1442, Thân Nhân Trung đã đề bút: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp. Thật vậy, với mỗi quốc gia, hiền tài chính là nguyên khí.

“Hiền tài” là từ Hán Việt dùng để chỉ những con người vừa tài giỏi lại vừa có tâm, có đạo đức và phẩm chất hơn người. Những người này sẽ mang đến sự hưng thịnh cho quốc gia. Còn “nguyên khí” là cốt khí, sức mạnh nội tại của mỗi quốc gia, dân tộc trong công cuộc xây dựng đất nước. Nói như thế có nghĩa, người vừa có tài, vừa có đức chính là sức mạnh nội tại lớn lao để đất nước có thể phát triển đi lên. Thân Nhân Trung đã nhìn nhận thật sắc vấn đề này, khi khẳng định, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp.

Có thể nói ngoài Thân Nhân Trung thì chưa có bất kì một ai có thể nói nên mối liên hệ giữa hiền tài và sự suy thịnh của một triều đại một quốc gia. Ông đã đặt ra một sự gắn kết chính xác một đường lối chiến lược về văn hóa giáo dục và nó đúng cho dù ở bất cứ một triều đại, một thế kỉ nào.

Và cũng kể từ khi Thân Nhân Trung đưa ra nhận định này nó đã được các triều đại phong kiến coi như một tư tưởng quan trọng trong quốc sách văn hóa giáo dục. Quan niệm như thế khẳng định hiền tài có vai trò ảnh hưởng trực tiếp đến vận mệnh dân tộc, Đồng thời cũng nhấn mạnh vai trò của nhà nước trong việc chăm lo nuôi dưỡng và đào tạo hiền tài.

Thời đại của nhà vua Lê Thánh Tông là thời đại hưng thịnh phát triển trên nhiều mặt , đạt đến đỉnh cao trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước chính vì thế nên dưới thời này đất nước có đến 502 người đỗ tiến sĩ trong đó có 10 người đỗ đẹ nhất giáp, đệ nhất danh và những vị hiền nhân này có vai trò vô cùng quan trọng trong công cuộc chấn hưng mạnh mẽ nước nhà.

Và tiếp thu truyền thống tốt đẹp đó Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã đề cao vai trò của việc đào tạo nhân tài. Người đã từng nói chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Chính vì thế mà ngay sau khi dân ta giành được độc lập người đã đặt cho giáo dục một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Và Người cũng nhấn mạnh “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. NGười kêu gọi các cháu thiếu nhi phải ra sức học tập để sánh vai với các cường quốc năm châu.

Bên cạnh đó Người cũng sử dụng chính sách chiêu mộ nhân tài đưa vào chính phủ lâm thời. một số những bậc nhân sĩ có tài lại yêu nước có thể kể đến như Huỳnh Thúc Kháng, Phan Anh, Nguyễn VĂn Huyên, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Hữu Thọ….Quan điểm của Bác cũng được kế thừa từ quan điểm dùng hiền tài chấn hưng nền giáo dục nước nhà đã được Thân Nhân Trung nêu lên cách đây hơn 500 năm.

Có thể nói dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, bất kì chế độ nào thì việc đào tạo nhân tài cũng có vai trò vô cùng quan trọng. Nó không chỉ làm cho cuộc sống con người trở nên tốt đẹp hơn mà điều quan trọng nó còn khiến cho vận khí đất nước trở nên phồn vinh hơn.

Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia - Bài mẫu số 3
4

Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia - Bài mẫu số 4

Tên tác phẩm: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia

Tác giả: Thân Nhân Trung (1418 - 1499)

Vài nét về tác phẩm: Nếu chúng ta hiểu một cách sâu sa chân lý “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” không cần phải đốt đuốc lên mới thấy được người có thực tài mà chỉ cần có kế sách cụ thể, thực sự trân trọng tài năng, khiêm nhường mời gọi người tâm huyết để khơi nguồn hiền tài còn rất nhiều tiềm năng của đất nước để làm cho đất nước hưng thịnh và hiền tài ngày một nhiều thêm.

Nội dung phân tích: Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.

“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp”. Rõ ràng từ xưa ông cha ta đã từng quan niệm nguyên khí của quốc gia vừa là khát vọng, vừa là sức sống của dân tộc. Ngay từ khi còn nhỏ, mới cấp sách đến trường, tôi đã được các thầy cô dạy về lòng tự hào quê hương.

Lịch sử nhân loại, việc dùng người mỗi thời khác nhau tùy theo hoàn cảnh lịch sử, thời thế và vai trò, nhiệm vụ. Người chân chính có thực tài thật là hiếm hoi, cần phải biết tìm, biết trân trọng.

Đất nước ta, từ xưa đến nay lúc nào cũng nhiều người hiền tài, tuy nhiên từng thời kỳ, từng lúc mà người hiền tài đó được khơi ra như thế nào. Có nghĩa là khi được quan tâm, trọng dụng thì hiền tài sẽ có nhiều. Người có học vấn thường có khả năng phán đoán và nhận định tình hình sáng suốt hơn người thường. Thời phong kiến, ở nước ta đã có biết bao bài học khi biết trọng dụng trí thức thì công cuộc bảo vệ tổ quốc, chống ngoại xâm và xây dựng đất nước phát triển rất hiệu quả nhờ tầng lớp trí thức khơi dậy, hòa đồng với nhân dân xã thân vì nghiệp lớn. “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” là một bài thơ bất hủ của Lý Thường Kiệt khẳng định chủ quyền của đất nước, Nguyễn Trãi với bản hùng văn lịch sử “Bình Ngô đại cáo” là minh chứng cho sự sáng suốt của các bậc tiền nhân biết quý trọng, coi trọng và sử dụng tri thức trong các cuộc chiến tranh trên mật trận trí tuệ.

Thời kỳ cách mạng còn trong “trứng nước” Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh với tư duy, tầm nhìn sáng suốt và uy tín to lớn đã cảm hóa, thuyết phục được nhiều nhân sĩ, trí thức tiêu biểu tham gia khối đại đoàn kết dân tộc bất chấp hiểm nguy đi theo cách mạng, hy sinh cho nghiệp lớn.

Cổ nhân đã dạy: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” có nghĩa là ngay cả người tầm thường cũng phải chịu trách nhiệm trước sự hưng vong của đất nước. Trí thức lại càng phải có trách nhiệm hơn thế!. Ngày nay, tiếp tục truyền thống của cha ông, trí thức cần được rèn luyện để trở thành hiền tài có vai trò và trách nhiệm cống hiến tài năng vào tiến trình phát triển đất nước. Tri thức thời nay là tầng lớp tinh hoa của xã hội, sáng tạo ra các giá trị tinh thần, tôn trọng chân lý nhưng được nâng lên tầm cao mới theo tư duy của xã hội dân chủ và phù hợp với thời đại toàn cầu hóa của nền kinh tế tri thức.

Chúng ta tin vào sức năng động tự thân của dân tộc, sự sáng tạo và bền bỉ của giới trí thức như ngọn lửa bùng lên để những người có trọng trách biết suy nghĩ, trọng dụng, quy tụ, sử dụng đội ngũ trí thức, nhất là các bậc trí thức lão thành, tâm huyết có kinh nghiệm, bản lãnh hiến kế cho tiến trình xây dựng đất nước. Các bậc trí thức hàng đầu của đất nước, theo quy luật của tạo hóa sẽ có lúc phải ngừng nghỉ, đó là khoảng trống mênh mông để lại.

Nhìn xa hơn, hiền tài phải được hướng tới lớp người trẻ tuổi bởi vì họ mới là lớp người có khả năng tiếp thu cái mới, sáng tạo, phụng sự đất nước khi còn sung sức. Khơi nguồn hiền tài từ lớp trẻ, đặc biệt là tuổi trẻ trí thức là con đường lâu dài và đúng đắn nhất. Cần tạo môi trường cho trí thức làm việc, phát huy năng lực, đãi ngộ xứng đáng công sức, thành quả họ mang lại. Tuy nhiên, vẫn có luồng ý kiến, trí thức chân chính không cần đãi ngộ, họ sẽ tự biết tìm cách để sáng tạo và tự sử dụng mình vào những công việc hữu ích cho tổ quốc.

Nếu chúng ta hiểu một cách sâu sa chân lý “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” không cần phải đốt đuốc lên mới thấy được người có thực tài mà chỉ cần có kế sách cụ thể, thực sự trân trọng tài năng, khiêm nhường mời gọi người tâm huyết để khơi nguồn hiền tài còn rất nhiều tiềm năng của đất nước để làm cho đất nước hưng thịnh và hiền tài ngày một nhiều thêm.

Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia - Bài mẫu số 4
5

Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia - Bài mẫu số 5

Tên tác phẩm: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia

Tác giả: Thân Nhân Trung (1418 - 1499)

Vài nét về tác phẩm: Tư tưởng “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” của Trần Nhân Trung thường xuyên nhắc nhở các triều đại về chính sách đối với kẻ sĩ, và luôn luôn minh chứng lời nói bất hủ của ông về sự thịnh suy của đất nước gắn liền với sự thịnh suy của hiền tài.

Nội dung phân tích: Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.

Thế hệ ngày nay, chắc nhiều người biết Thân Nhân Trung viết bài văn cho tấm bia đầu tiên ở Văn Miêu, ông ghi nhận về trí thức "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nưóc mạnh và ngày càng lớn, nguyên khí suy thì nước yếu và ngày càng xuống thấp." Đây là tư tưởng quan trọng nhất về văn hoá, giáo dục của Thân Nhân Trung đuợc trình bày tập trung, rõ ràng trong bài ký đề tên bia Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3(1442). Còn chính là khát vọng của cả dân tộc. Tư tưởng trên, trước hết khẳng định tầm quan trọng của hiền tài đối với quốc gia, là việc đem lại hưng thịnh cho đất nước.

Trong bài kí, Thân Nhân Trung không nói nhân tài mà nói "hiền tài", Hiền tài theo quan niệm người xưa, cũng như của tác giả là người có cả tài năng không những học rộng hiểu nhiều, có đủ tài giúp vua trị nước, đem lại cuộc sống thanh bình cho nhân dân; có cả đức hạnh, là người gương mẫu về đạo đức, suốt đời chăm lo tu dưỡng phẩm hạnh cho bản thân, đem hết tài năng và đức hạnh phục vụ cho đất nước.

Đó là người “lấy trung nghĩa mà rèn cho danh thực hợp nhau, thực hành điều sở học, làm nên sự nghiệp vĩ đại sáng ngời, khiến cho mọi người đời sau kính trọng thành danh, mến mộ khí tiết...”. Về khái niệm “nguyên khí", trong kho tàng thư tịch cổ Trung Hoa đã có nhiều sách đề cập. Sách “Bạch hổ Thông" viết: “Địa giả, nguyên khí sơ sinh, vạn vật chi tổ" (Đất là nơi sản sinh ra nguyên khí, tổ của muôn loài), xem nguyên khí là khí đại hoá lớn lao.

Còn sách "Đường thư" viết: Liễu Công Độ thiệp nhiếp sinh. Thường viết: “ Ngô sở vô thuật, bất dĩ nguyên khí tả hi nộ nhĩ" (Liễu Công Độ giỏi việc dưỡng sinh. Ông thường nói: Ta vốn không có thuật gì, chẳng qua biết dựa vào tinh khí mà điều hoà sự yêu ghét, mừng, giận mà thôi), xem nguyên khí là để chi tính khi con người ta. Thần Nhân Trung đã mượn nghĩa từ sách Đường thư: nguyên khí chính là tình khí và vận dụng một cách sáng tạo.

Có thể nói, trong lịch sử văn hoá, giáo dục trước đời Lê Thánh Tông, chưa có ai đặt vấn đề như ông. Người ta không ai là không biết mốì quan hệ giữa hiền tài và sự thịnh suy của một triều đại, một quốc gia. Nhưng còn coi người “hiền tài là nguyên khí quốc gia" thì phải ghi nhận bắt đầu từ Thân Nhân Trung một câu tổng kết chính xác cho cả một đường lối chiến lược về văn hoá, giáo dục của bất cứ một thời đại nào, một chính thể nào.

Tư tưởng ấy, một lẩn nữa được nhắc lại trong bài kí để tên bia Tiến sĩ khoa Đính Mùi, niên hiệu Hồng Đức 18 (1487): "Nếu không có người tài đông đảo thì làm sao có được sự thịnh trị thanh bình" và "muốn có nền giáo hoá, đất nước thịnh trị đó là cái gốc của nó là phải có hiền tài".

Quan niệm "Hiền tài là nguyên khí quốc gia" do Thân Nhân Trung đưa được ra các vương triều phong kiến Việt Nam từ triều vua Lê Thánh Tông trở đi coi như một tư tưởng quan trọng trong quốc sách văn hoá, giáo dục. “Nhân tài thịnh, chính trị lên cao, vận nước nhà rực rỡ vô cùng, càng sâu xa càng lâu dài, mà càng sáng sủa lớn lao thêm” (Bia số 4, khoa Bính Tuất, niên hiệu Quang thuận 7, 1467).

“Quốc gia có người tài cũng như thân thể con người có nguyên khí. Nguyên khí cường thịnh thì con người được hưởng thọ lâu dài, người tài đông đảo thì quốc gia được thái bình vững chãi “(Bia số 29, khoa Bính Thìn, niên hiệu Hoằng Định 20, 1616). Quan niệm như thế là khẳng định hiền tài định đoạt vận mệnh đất nước, dân tộc. Tư tưởng này dẫn đến sự cầu hiền. Đồng thời nhấn mạnh vai trò của nhà nước trong việc "chăm lo nuôi dưỡng và đào tạo hiền tài bồi đắp thêm nguyên khí".

Có thể nói, ở Việt Nam thời phong kiến, chưa bao giờ nền giáo dục, thi cử lại thịnh đạt cũng như vai trò người trí thức lại được đề cao, đãi ngộ như đời Lê Thánh Tông. Chính vì thế, trong gần 40 năm làm vua, Lê Thánh Tông đã đưa nhà Lê phát triển tới đỉnh cao về mọi mặt đạt tới vinh quang trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước hồi thế kỷ XV. Sử gia Ngô Sĩ Liên khen Lê Thánh Tông là vua “anh hùng, tài lược”. Vai trò của nhà nước, người đứng đầu chế độ phong kiên là nhà vua.

Muốn bồi dưỡng được hiền tài, theo Thân Nhân Trung người trên (nhà vua) phải biết chăm lo cho dân, lo việc nước khiến cho nước mạnh dân giàu. "Hiền tài phồn thịnh có quan hệ đến khí hóa của trời đất và cốt ở cái gốc giáo hoá của thánh nhân". Nói sự giáo hoá của thánh nhân là nói về sự quan tâm đặc biệt của nhà vua đối với việc giáo dưỡng tuyển chọn và đãi ngộ nhân tài.

Thời đại của Thân Nhân Trung sống, Lê Thánh Tông là một minh quân có tầm nhìn chính trị, có trình độ văn hoá, có tinh thần yêu nước thương dân, chú trọng đến đào tạo và sử dụng hiền tài trong xây dựng đất nước đưa quốc gia Đại Việt trở thành thịnh trị. Việc đào tạo người hiền tài, sử dụng người tài của vua Lê Thánh Tông được phản ánh rõ nét ở 12 khoa thi Tiến sĩ lấy đỗ 502 người, trong đó có 10 người đỗ đệ nhất giáp, đệ nhất danh, và huy động các hiền tài tham gia công cuộc chấn hưng mạnh mẽ nước nhà. Nhà vua còn cho dựng bia khắc tên những người thi đỗ và đặt ở Quốc Tử Giám.

Tiếp thu tinh hoa văn hoá truyền thống dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhà văn hoá, giáo dục lớn, Người suốt đời chăm lo cho độc lập của đất nước, hạnh phúc của nhân dân, “chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Cho nên, đất nước vừa giành độc lập, Người đặt giáo dục là một trong nhiệm vụ hàng đầu để chấn hưng đất nước.

Người chỉ ra rằng: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Người kêu gọi mọi người Việt Nam có quyền lợi và bổn phận học kiến thức mới để xây dựng nước nhà; nhất là các cháu thiếu niên phải ra sức học tập để cho non sông Việt Nam, dân tộc Việt Nam được vẻ vang sánh vai cùng các cường quốc năm châu.

Bên cạnh việc chăm lo giáo dục đào tạo Người còn sử dụng chính sách chiêu hiền tài. Người đưa vào chính phủ lâm thời, các bộ, một số trí thức là những bậc nhân sĩ yêu nước như Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Tố, các luật sư, bác sĩ, kỹ sư Tây học như Phan Anh, Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Minh Giám, Tôn Thất Tùng…Vận động một số trí thức yêu nước đang nghiên cứu, làm việc ở Châu Âu như Trần Đại Nghĩa, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Hữu Thọ, Đặng Văn Ngữ…về nước tham gia kháng chiến. Rồi các văn nghệ sĩ nổi tiếng thời ấy cũng đứng vào hàng ngũ dưới lá cờ của Bác như Huy Cận, Xuân Diệu, Lưu Hữu Phước, Văn Cao, Thế Lữ, Nguyễn Tuân, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Đình Thi…

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, đội ngũ trí thức ấy đã đóng góp xứng đáng vào thắng lợi của dân tộc. Trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc đào tạo và sử dụng hiền tài. Người đặt nhiệm vụ phải đào tạo con người Việt Nam mới vừa hồng vừa chuyên (có đủ đức tài) đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Người coi văn hoá giáo dục là một mặt trận quan trọng của sự nghiệp cách mạng trong từng giai đoạn cách mạng cụ thể và có tác dụng to lớn đối với sự phát triển của một đất nước, một dân tộc. Trên tinh thần ấy, từ Đại hội VI đến nay, Đảng ta luôn khẳng định: “Cùng với khoa học và công nghệ , giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”, “khoa học công nghệ là động lực, giáo dục và đào tạo là nhân tố cơ bản để tạo ra động lực” (Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành T.Ư khoá IX) cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giáo dục, đào tạo và sử dụng hiền tài đã chấn hưng nền giáo dục nước nhà, phát huy bản lĩnh và tài năng, nhận đúng vai trò của người hiền tài trong tiến trình giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước độc lập, phồn vinh là truyền thống quí báu của cha ông ta được Thân Nhân Trung nêu lên cách đây hơn 500 năm.

Ngày hôm nay, đất nước đang chuyển mình trong hoàn cảnh mới của dân tộc và thời đại, đang hội nhập kinh tế, chuẩn bị nội lực, thực lực cho kinh tế Việt Nam khi nước ta hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế thế giới và lĩnh vực giáo dục, đào tạo, làm sao để Việt Nam có một nền giáo dục chất lượng cao, chính sách sử dụng nhân tài như thế nào để người tài có điều kiện phát huy hết khả năng của mình, phục vụ đắc lực và có hiệu quả cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là những vấn đề nóng nhất mà chúng ta cần quan tâm để xây dựng và phát triển đất nước.

Giáo dục đang trở thành quốc sách hàng đầu, chấn hưng giáo dục là chìa khoá mở cửa vào tương lai dân tộc. Văn hoá, khoa học và đội ngũ trí thức đang giữ vai trò quan trọng đối với sự nghiệp chung của đất nước. Tư tưởng “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” của Trần Nhân Trung thường xuyên nhắc nhở các triều đại về chính sách đối với kẻ sĩ, và luôn luôn minh chứng lời nói bất hủ của ông về sự thịnh suy của đất nước gắn liền với sự thịnh suy của hiền tài.

Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia - Bài mẫu số 5
6

Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia - Bài mẫu số 6

Tên tác phẩm: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia

Tác giả: Thân Nhân Trung (1418 - 1499)

Vài nét về tác phẩm:  Văn bản "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia" do tác giả Thân Nhân Trung biên soạn đã cho chúng ta thấy được vai trò của những người hiền tài và tầm quan trọng của việc khắc bia tiến sĩ trên đất nước ta.

Nội dung phân tích: Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.

Văn miếu Quốc Tử Giám là một trong số những công trình kiến trúc độc đáo, địa điểm du lịch nổi tiếng ở nước ta. Nơi đây hiện còn lưu giữ 82 bia tiến sĩ, ghi danh những người hiền tài trong một chặng dài của lịch sử dân tộc và "Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Bảo Đại thứ ba" của tác giả Thân Nhân Trung là một trong số đó. Đặc biệt, văn bản "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia" trích từ tác phẩm ấy sẽ giúp chúng ta thấy rõ vai trò to lớn của hiền tài đối với lịch sử dân tộc.

Trước hết, tác giả Thân Nhân Trung đã cho người đọc thấy được vai trò to lớn, tầm quan trọng của hiền tài đối với quốc gia, dân tộc. Trong đoạn mở đầu văn bản, tác giả đã từng viết "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp". Với một câu văn nhiều vế, tác giả đã cho thấy tầm quan trọng của hiền tài. Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, "hiền tài" chính là những người vừa học cao, tài rộng vừa có đạo đức còn "nguyên khí" chính là khí chất ban đầu, đóng vai trò nền tảng làm nên sự sự sống còn, phát triển của mỗi sự vật. Từ đó, có thể thấy rằng, người tài cao, học rộng, có đức độ chính là khí chất ban đầu làm nên sự sống còn, sự phát triển của đất nước, xã hội. Hay suy rộng ra, với tác giả Thân Nhân Trung, hơn ai hết, ông muốn nhấn mạnh rằng người hiền tài luôn có vai trò quan trọng đối với mỗi quốc gia, họ có ảnh hưởng to lớn và quan hệ sâu sắc đến sự thịnh - suy của mỗi quốc gia, đất nước, dân tộc.

Không chỉ nêu lên tầm quan trọng của hiền tài, tác giả Thân Nhân Trung còn nêu lên những biện pháp để khuyến khích người hiền tài của các bậc minh vương. Trong bài viết của mình, tác giả đã kể đến những việc mà các bậc minh vương, các vị vua đã thực hiện để thể hiện sự trọng dụng, chiêu mộ người hiền tài như đề cao danh tiếng, xướng danh, ghi tên ở bảng vàng, ban chức tước hay ban yến tiệc,... Nhưng đồng thời, ông cũng chỉ ra rằng, chỉ những việc làm ấy không thôi là chưa đủ bởi khi đó tiếng tăm của bậc hiền tài chỉ được vang danh ngắn ngủi, chỉ lẫy lừng được trong một khoảng thời gian nhất định mà chưa được lưu truyền lâu dài. Vì những lí do đó, ông cũng đã nêu lên biện pháp lâu dài cần thực hiện đó chính là khắc bia tiến sĩ để tiếng tăm được lưu truyền đến muôn đời sau.

Thêm vào đó, tác giả Thân Nhân Trung còn chỉ ra và làm rõ ý nghĩa, vai trò của việc khắc bia tiến sĩ để ghi danh những người hiền tài. Ý nghĩa đó trước hết đó chính là khuyến khích nhân tài trong nhân dân, đất nước, khiến cho kẻ sĩ, cho những người có tài năng nhìn vào đó để học hỏi, noi theo và đứng ra để giúp vua, giúp nước. Cùng với đó, khắc bia tiến sĩ còn giúp ngăn ngừa những điều ác, điều xấu trong nhân dân, "kẻ ác lấy đó làm răn, người thiện theo đó mà gắng". Cuối cùng, việc khắc bia tiến sĩ sẽ góp phần to lớn làm cho đất nước được giàu mạnh, hưng thịnh và phát triển bền vững lâu dài "dẫn việc dĩ vãng, chỉ lối tương lai, vừa để rèn giũa danh tiếng cho sĩ phu, vừa để củng cố mệnh mạch cho nhà nước".

Đặc biệt, thông qua bài viết, tác giả cũng gợi lên trong lòng người đọc lớp lớp thế hệ sau những bài học lịch sử có ý nghĩa to lớn từ việc khắc bia, ghi danh tiến sĩ. Trước hết, trong bất cứ thời đại nào, dù ngày xưa hay ngày nay, chiến tranh hay hòa bình, người hiền tài luôn là "nguyên khí của quốc gia", có mối quan hệ sống còn đối với sự thịnh suy của đất nước vì vậy, phải biết quý trọng người tài. Tất cả những điều này đã được thể hiện một cách rõ nét và sâu sắc trong quan niệm về giáo dục của đất nước, của nhân dân ta, phải không ngừng phát triển giáo dục và trọng dụng người tài đức.

Tóm lại, với kết cấu chặt chẽ cùng cách lập luận giàu sức thuyết phục, văn bản "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia" do tác giả Thân Nhân Trung biên soạn đã cho chúng ta thấy được vai trò của những người hiền tài và tầm quan trọng của việc khắc bia tiến sĩ trên đất nước ta.

Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia - Bài mẫu số 6
7

Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia - Bài mẫu số 7

Tên tác phẩm: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia

Tác giả: Thân Nhân Trung (1418 - 1499)

Vài nét về tác phẩm: Bằng phương pháp lập luận chặt chê và nghệ thuật sử dụng từ ngữ chính xác, tác giả Thân Nhân Trung đã để lại cho người đời sau bài học thiết thực về cách nhìn nhận, đánh giá, sử dụng nhân tài đúng đắn và hợp lí.

Nội dung phân tích: Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.

Văn bia là bài văn khắc trên mặt đá nhằm ghi chép lại những sự việc trọng đại, hoặc tên tuổi, cuộc đời của những người có công đức lớn để lưu truyền đến muôn đời sau. Bia có ba loại chính: bia ghi công đức, bia ghi việc xây dựng các công trinh kiến trúc lớn và bia lăng mộ.

Bia ghi công đức thường có ba phần: Phần thứ nhất là tự (kể), nêu lí do, quá trình làm bia, tiểu sử nhân vật được khắc vào bia; phần thứ hai (viết bằng văn vần) tóm được nội dung tự sự ở trên để người dọc dễ ghi nhớ, phần này còn gọi là minh (ghi nhớ); phẩn thứ ba ghi ngày tháng, họ tên người làm bia (viết bằng vãn xuôi). Dần dần, phần tự trở thành nội dung quan trọng nhất, thể hiện tư tưởng, quan điểm của người dựng bia.

Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Dại Bảo thứ ba do tiến sĩ Thân Nhãn Trung viết năm 1484 dưới thời Hổng Đức, theo lệnh vua Lê Thái Tông. Bài kí này giữ vai trò quan trọng như lời Tựa chung cho cả 82 tấm bia tiến sĩ được dựng ở nhà bia Văn Miếu (Hà Nội). Bài văn Hiền tài là nguyên khí của quốc gia được trích tử bài kí trên.

Nội dung cơ bản của bài văn này là giải thích ý nghĩa và mục đích của việc dựng bia tiến sĩ. Mục đích cơ bản nhất là tôn vinh những người hiền tài, có công lớn với đất nước, vừa để ghi công, vừa là một hình thức động viên khích lệ để họ dồn tâm huyết và sức lực hơn nữa vào việc chăm lo cho vận mệnh quốc gia. Bài kí có kết cấu giống như một bài Tựa, cũng là một vàn bản chính luận với lí lẽ sắc sảo, chặt chẽ, ngôn ngữ hàm súc, giàu ý nghĩa, có sức . truyền cảm và thuyết phục rất lớn.

Bài Hiền tài là nguyên khí của quốc gia tuy là đoạn trích nhưng kết cấu rất hợp lí, rõ ràng, có thể chia làm hai đoạn: Đoạn 1: Tử đầu... đến cao nhất: Hiển tài có vai trò vô cùng quan trọng đới với vận mệnh đất nước. Đoạn 2: Phần còn lại: Ý nghĩa và tác dụng to lớn của việc khắc bia ghi tên các bậc hiền tài đối với người dương thời và các thế hệ sau. Đoạn trích được mở đầu bằng lời lẽ thể hiện thái độ khiêm tốn của người viết: Tôi dẫu nông cạn vụng về, nhưng đâu dám từ chối xin kính cần chắp tay củi đầu mà làm bài kỉ...

Sau đó, ông nhận định về giá trị của người tài đức trong xã hội bằng một chân lí đã dược đúc kết từ lâu: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Hiền tài là người tài cao, học rộng và có đạo đức. Nguyên khí là khí chất ban đầu làm nên sự sống còn và phát triển của sự vật. Hiểu rộng ra, nguyên khí là chất làm nên sự sống còn và phát triển của xã hội, đất nước. Người hiền tài là sự kết tụ tinh hoa của đất trời, của dân tộc. Người xưa đã nói: Địa linh sinh nhàn kiệt. Là sự đúc kết của khí thiêng sõng núi nên : Hiển tài là nguyên khí của quốc gia : nguyên khỉ thịnh thì thế nước mạnh, rổi lên cao, nguyên khi suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp.

Để chứng minh cho nhận xét của mình là đúng, Thân Nhân Trung nêu việc làm đã thành quy luật của vua chúa bao đời: Vì vậy. các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bối dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trổng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại như thế, cho nôn quý chuộng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng. Đã yêu mến cho khoa danh, lại đổ cao bằng tước trật.

Ban ân rất lớn mà vẫn cho là chưa đủ. Lại nêu tên ở tháp Nhạn, ban cho danh hiệu Long hổ, bày tiệc Văn hỉ. Triều đình mừng được người tài, không có việc gì không làm đến mức cao nhất. Bằng cách viết ngắn gọn, súc tích, tác giả đã nêu bật được vai trò quan trọng của hiển tài đối với vận mệnh quốc gia. Tuy nhiên, theo ý của bậc thảnh minh thì những ưu đãi kể trên vẫn chưa đủ, mà phải làm bia đá khắc tên và công lao của các bậc hiền tài để lưu tiếng thơm muôn đời, để động viên những người mà triều đình đã và đang trọng dụng, đổng thời khích lệ kẻ sĩ nỗ lực hết minh, ra sức giúp vua, giúp nước:

Nay thánh minh lại cho rằng, chuyện hay việc tốt tuy có một thời lừng lẫy, nhưng lời khen tiếng thơm chưa đủ lưu vẻ sáng lâu dài, cho nôn lại dựng đá để danh đặt ở cửa Hiền Quan, khiến cho kẻ sĩ trông vào mà phấn chấn hâm mộ, rèn luyện danh tiết, gắng sức giúp vua. Há chỉ là chuộng văn suông, ham tiếng hão mà thôi đâu.

Ôi, kẻ sĩ chốn trường ốc lều tranh, phận thật nhỏ mọn mà được triều đinh để cao rất mực như thế, thì họ phải làm thố nào để tự trọng tấm thân mà ra sức báo đáp? Ở phẩn thứ hai, tác giả khẳng định việc dựng bia tiến sĩ là đúng đắn và cần thiết, bởi ngoài ý nghĩa tôn vinh hiền tài, ghi nhở công ơn người có công với dân tộc thi mục đích lâu dài và sâu sắc của việc dựng bia là răn dạy lẽ phải, ngăn ngừa sự tha hoá biến chất của những người có tài trong thiên hạ:

Hãy đem họ tên những người đỗ khoa này mà điểm lại. Có nhiều người đã đem văn học, chính sự ra tô điểm cho cảnh trị bình suốt mấy chục năm, được quốc gia tin dùng. Cũng không phải không có những kẻ vì nhận hối lộ mà hư hỏng, hoặc rơi vào hàng ngũ bọn gian ác, có lẽ vì lúc sống họ chưa được nhìn tấm bia này. Ví thử hồi đó được mát thấy thì lòng thiện tràn đầy, ỷ xấu bị ngăn chận, đâu còn dám nảy sinh như vậy được?

Thế thì việc dựng tấm bia đá này ích lợi rất nhiều: kẻ ác lấy đó làm răn, người thiện theo đó mà gắng, dẫn việc đĩ vãng, chỉ lối tương lai, vừa để rèn giũa danh tiếng cho sĩ phu, vừa đề củng cố mệnh mạch cho nhà nước. Thánh thần đặt ra đâu phải là vô dụng. Ai xem bia nên hiểu ý sâu này.

Nhân tài của đất nước trong các thời đại tuy không nhiều song cũng không quá hiếm hoi, nhưng để họ trở thành hiền tài, nguyên khí của quốc gia thì triều đình cần phải có những chính sách sử dụng hiệu quả. Tác giả đả đưa ra một số trường hợp tài mà không hiền và nêu lí do là bởi họ không được răn dạy, không cố điểu răn dạy trước mắt. Mục đích và ý nghĩa của việc dựng bia đá được tác giả nêu lên rất cụ thể. Tấm bia đá sẽ là lời nhắc nhở các bậc hiền tài có ý thức rõ ràng hơn về trách nhiệm của mình đối với sự hưng vong của đất nước.

Dựng bia ghi danh tiến sĩ là việc làm có ý nghĩa trọng đại đối với dân tộc, vì vậy, những lí lẽ, lập luận giải thích phải triệt để. Tiến sĩ Thân Nhân Trung đã thực hiện xuất sắc điều đó. ổng giải thích rất rõ việc dựng bia không phải là chuyện chuộng vân suông, ham tiếng hão mà là một phương thức cán thiết để củng cố mệnh mạch cho nhà nước. Đó cũng là kế sách thu phục và sử dụng hiền tài lâu dài của các bậc minh quân.

Tuy vậy, lí do quan trọng nhất để bậc thánh minh quyết định dặt bia đá à cửa Hiền Quan văn là để nêu cao vai trò quan trọng của hiền tài đối với dân tộc. Lối kết cấu khép kín của bài kí đã khẳng định điều đó. Bài kí mở đầu bằng câu: Hiền tài là nguyên khỉ của quốc gia và kết thúc với ý củng cố mệnh mạch cho nhà nước.

Bằng phương pháp lập luận chặt chẽ và nghệ thuật sử dụng từ ngữ chính xác, tác giả Thân Nhân Trung đã để lại cho người đời sau bài học thiết thực về cách nhìn nhận, đánh giá, sử dụng nhân tài đúng đắn và hợp lí. Biết phát hiện, đẩu tư đào tạo và tôn trọng nhân tài - đặc biệt là hiền tài thì sự nghiệp dân giàu nước mạnh mới mau chóng trở thành hiện thực.

Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia - Bài mẫu số 7
8

Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia - Bài mẫu số 8

Tên tác phẩm: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia

Tác giả: Thân Nhân Trung (1418 - 1499)

Vài nét về tác phẩm: Với mạch lập luận chặt chẽ, giàu sức thuyết phục của mình, tác giả đã cho thấy tầm quan trọng của việc chú trọng phát triển nhân tài, để từ đó nhắc nhở quốc gia, giang sơn cần có những chính sách cần thiết để bồi dưỡng phát triển nhân tài, đó cũng là cội rễ bền lâu cho sự phát triển của đất nước. 

Nội dung phân tích: Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.

Với tấm lòng yêu nước, thương dân, lo lắng cho sự hưng thịnh của giang sơn, “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” đã thể hiện những trăn trở, lo lắng của Trần Nhân Trung, và vì thế hiện nay vẫn được lưu trên bia đá ở Văn Miếu Hà Nội.

Tuy thể hiện rất nhiều những đau đáu, trăn trở của tác giả về sự phát triển phồn vinh và tương lai của đất nước, nhưng đặc biệt ấn tượng với người đọc ở bài kí này là cách lập luận sắc bén, thuyết phục của tác giả: "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp".

Rõ ràng, hiền tài là những người vừa có tài vừa có đức, chỉ khi đất nước có sự phò trợ của những bậc tri thức lỗi lạc cả về tài năng lẫn đức độ mới có thể phát triển đi lên. Đây chính là nòng cốt cho tư tưởng bồi dưỡng nhân lực tài năng đức độ cho công cuộc nghìn năm thiên thu vạn đại của dân tộc. Nhận thấy triết tưởng rằng: “Con người bao giờ cũng là nguồn lực phát triển, và là người tạo dựng nên các giá trị xung quanh”, chứng tỏ tầm nhìn uyên bác của người viết . Điều này không chỉ mang tính lập luận khách quan mà còn là suy tưởng đầy triết lí về các giá trị quan liên quan đến con người, về sự phát triển của loài người. Găm vào tư duy người đọc bằng những dòng lập luận khúc triết, mạch lạc như thế, tác giả đã thực sự khiến người đọc phải cúi đầu nể phục.

Sau khi đề rõ vai trò của hiền tài, lực lượng nòng cốt góp công cho đất nước, tác giả xem xét đến chính sách bồi dưỡng và phát triển nhân tài của đất nước. Xét thấy việc chú trọng các chính sách ưu tiên phát triển hiền tài là cốt lõi để thúc đẩy một thế hệ tài năng đức độ, các vị vua đã không ngừng đề ra các cấp bổng để biệt đãi riêng cho họ: “Vì vậy, các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí" làm việc đầu tiên. Triều đình nhà Lê, từ năm 1439 trớ đi đã có nhiều việc làm biệt đãi và quý trọng kẻ sĩ. Nào là "đã yêu mến cho khoa danh, lại đề cao bằng tước trật". Nào là "nêu tên ở tháp Nhạn, ban cho danh hiệu Long hổ, bày tiệc Văn hỉ". Sau mỗi khoa thi kén được nhiều tiến sĩ, trạng nguyên, "Triều đình mừng được người tài, không có việc gì không làm đến mức cao nhất". Thêm nữa, vua còn đặc biệt đặt bia đá đặt ở cửa Hiền Quan (Quốc Tử Giám) nhằm mục đích "khiến cho kẻ sĩ trông vào mà phấn chấn hâm mộ, rèn luyện danh tiết, gắng sức giúp vua" Đó chính là những điều rất cần thiết, xứng đáng để quốc gia đền đáp tấm lòng tài năng của những bậc hiền nhân.

Bên cạnh việc khen thưởng những người tài nhân phò vua giúp nước, tác giả cũng chỉ trích, phê phán những kẻ chỉ biết nhận hối lộ, làm lũng đoạn triều chính, chỉ ham vinh hoa lợi lộc mà không nghĩ đến giang sơn. Đó là những thành phần sâu mọt, sớm muộn cũng sẽ tổn hại đến đất nước. Cần phải loại bỏ, và thay thế con sâu làm rầu nồi canh bằng những người có thực lực, đó là cái trụ, bệ đỡ cho sự phồn vinh của giang sơn thiên thu ngàn năm.

Với mạch lập luận chặt chẽ, giàu sức thuyết phục của mình, tác giả đã cho thấy tầm quan trọng của việc chú trọng phát triển nhân tài, để từ đó nhắc nhở quốc gia, giang sơn cần có những chính sách cần thiết để bồi dưỡng phát triển nhân tài, đó cũng là cội rễ bền lâu cho sự phát triển của đất nước. Phải là người giàu lòng phò vua trợ dân, dụng tâm với sự hưng thịnh, phồn vinh của giang sơn đất nước người viết mới có thể thảo nên những trang kí đầy tâm huyết như vậy.

Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia - Bài mẫu số 8
9

Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia - Bài mẫu số 9

Tên tác phẩm: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia

Tác giả: Thân Nhân Trung (1418 - 1499)

Vài nét về tác phẩm: Các tiến sĩ được khắc tên vào bia đá ở Văn Miếu là những hiền tài, những người học rộng, tài cao và có đạo đức. Tác giả coi "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia" khẳng định nguyên khí có hệ trọng với sự thịnh suy, hưng vong của đất nước.

Nội dung phân tích: Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.

Bài "Hiền tài là nguyên khí quốc gia" được trích trong bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442) do Thân Nhân Trung soạn năm 1484 thời Hồng Đức. Bài kí này được khắc đá hiện còn ở Văn miếu (Hà Nội).

Thân Nhân Trung tự là Hậu Phủ quê ở Yên Dũng, Bắc Giang, đỗ Tiến Sĩ làm quan dưới thời Hồng Đức có văn tài lỗi lạc, đức trọng tài cao từng được vua Lê Thánh Tông tin dùng ban chức "Tao đàn phó nguyên suý".Câu mở đầu cho ta biết Thân Nhân Trung được vua Lê Thánh Tông uỷ thác cho trọng trách. Một cách nói vừa kính cẩn, vừa khiêm nhường:

"Tôi dẫu nông cạn, vụng về, nhưng đâu dám từ chối, xin kính cẩn chắp tay cuối đầu mà làm bài kí rằng …".

Các tiến sĩ được khắc tên vào bia đá ở Văn Miếu là những hiền tài, những người học rộng, tài cao và có đạo đức. Tác giả coi "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia" khẳng định nguyên khí có hệ trọng với sự thịnh suy, hưng vong của đất nước. Cách lập luận của tác giả rất chặc chẽ và đầy sức thuyết phục:

"Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp".

Câu văn đẹp, ý tưởng sâu sắc, ngôn từ trang nhã, phép đối của thể văn cổ biền ngẫu được vận dụng tài tình. Từ xưa đến nay, câu văn này được nhiều nhà viết sử nhắc lại, được nhiều người ghi nhớ và truyền tụng, càng đọc càng suy ngẫm, ta càng thấy rõ: khi hiền tài xuất hiện như hoa mùa xuân thì quốc gia cường thịnh, khi "tuấn kiệt như sao buổi sớm, nhân tài như lá mùa thu" thì vận nước khó khăn, yếu hèn.

Tiếp theo Thân Nhân Trung nói về sự quan tâm đào tạo nhân tài là chính sách hàng đầu, là điều quan tâm đặc biệt: 'Vì vậy, các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí" làm việc đầu tiên. Triều đình nhà Lê, từ năm 1439 trớ đi đã có nhiều việc làm biệt đãi và quý trọng kẻ sĩ. Nào là "đã yêu mến cho khoa danh, lại đề cao bằng tước trật". Nào là "nêu tên ở tháp Nhạn, ban cho danh hiệu Long hổ, bày tiệc Vân hỉ". Sau mỗi khoa thi kén được nhiều tiến sĩ, trạng nguyên, "Triều đình mừng được người tài, không có việc gì không làm đến mức cao nhất". Đó là các việc như đặt ra lệ xướng danh, yết bảng, ban mũ áo, cấp ngựa, đãi yến và vinh quy bái tổ cho những người đỗ đạt cao.

Làm thế vẫn chưa đủ, nên vua Lê Thánh Tông, vị thánh minh lại cho khắc tên các tiến sĩ vào bia đá đặt ở cửa Hiền Quan (Quốc Tử Giám) nhằm mục đích "khiến cho kẻ sĩ trông vào mà phấn chấn hâm mộ, rèn luyện danh tiết, gắng sức giúp vua". ý nghĩa sâu xa của việc "dựng đá đề danh ở cửa Hiền Quan" thể hiện việc đào tạo và bồi dường nhân tài, ươm nguồn nguyên khí quốc gia, dược tổ tiên ông cha ta đặc biệt coi trọng, đâu phải là "chuộng văn suông, ham tiếng hão".Trách nhiệm, nghĩa vụ của "kẻ sĩ chốn trường ốc lều tranh" phải như thế nào? Phải "tự trọng tấm thân" rèn đức rèn tài, phải "ra sức báo đáp' ân đức minh quân thánh đế.

Sau khi ca ngợi những tiến sĩ "đã đem văn học, chính sự ra tô điểm cho cảnh trị bình suốt mấy chục nãm, được quốc gia tin dùng", Thân Nhân Trung đã nghiêm khắc chỉ trích "những kẻ vì nhận hối lộ mà hư hỏng, hoặc rơi vào hàng ngũ bọn gian ác".

Cuối bài văn, tác giả nói lên lợi ích to lớn, tác dụng to lớn của việc dựng bia tiến sĩ ở Vãn Miếu: "kẻ ác lấv đó làm răn, người thiện theo đó mà gắng, dẫn việc dĩ vãng, chỉ lối tương lai, vừa để rèn giũa danh tiếng cho sĩ phu, vừa để củng cố mệnh mạch cho nhà nước". Lí lẽ sắc sáo, lập luận chặt chẽ, đối ý đối lời mạch lạc, giọng văn trang trọng, càng đọc ta càng thấy ý nghĩa tốt đẹp của việc tổ tiên ông cha ta ngày xưa dựng bia đá đề danh tiến sĩ.

Trong "Bình Ngô đại cáo" Nguyễn Trãi tự hào viết:

"Như nước Đại Việt ta từ trước,

Vốn xưng nền văn hiến từ lâu". 

Đọc bài "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia" ta càng hiểu rõ sâu hơn nền văn hiến của dân tộc. Chính việc "bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí, (dựng bia tiến sĩ đã góp phần to lớn xây nền văn hiến ngày thêm rạng rỡ). Bài học lịch sử được rút ra từ việc khắc bia ghi tên tiến sĩ là lấy việc giáo dục làm quốc sách, coi trọng việc đào tạo nhân tài, biệt đãi kẻ sĩ để công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia - Bài mẫu số 9
10

Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia - Bài mẫu số 10

Tên tác phẩm: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia

Tác giả: Thân Nhân Trung (1418 - 1499)

Vài nét về tác phẩm: Trong văn bản Hiền tài là nguyên khí của quốc gia tác giả đã thể hiện rất rõ tầm nhìn của mình thông qua việc thể hiện tư tưởng coi trọng người hiền tài đối với sự nghiệp xây dựng đất nước.

Nội dung phân tích: Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.

Thân Nhân Trung là người học rộng tài cao, có tầm nhìn xa trông rộng. Trong văn bản Hiền tài là nguyên khí của quốc gia ông đã thể hiện rất rõ tầm nhìn của mình thông qua việc thể hiện tư tưởng coi trọng người hiền tài đối với sự nghiệp xây dựng đất nước. Hiền tài là nguyên khí của quốc gia được trích từ bài văn bia Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Bảo Đại thứ ba. Tác phẩm ra đời trong hoàn cảnh đất nước phồn thịnh, xã hội ổn định, văn hóa giáo dục đạt được nhiều thành tựu xuất sắc. Để có được những thành tựu như vậy sự đóng góp của người hiền tài là vô cùng lớn.

Ngay từ đầu văn bản Thân Nhân Trung đã nêu cao tư tưởng trọng dụng người hiền tài với câu văn khẳng định: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Hiền tài ở đây được hiểu là những người học rộng, tài cao, có đạo đức và sống có lí tưởng. Nguyên khí là khí chất ban đầu làm nên sự sống của mỗi sự vật. Và sự vật ở đây chính là quốc gia, vận mệnh đất nước. Như vậy, người hiền tài chính là nhân tố quyết định đến sự sống còn, tồn vong của đất nước.

Sau câu văn mở đầu khẳng định tầm quan trọng của người hiền tài đối với đất nước, Thân Nhân Trung đã đưa ra hàng loạt các lí lẽ để chứng minh cho nhận định ấy. Nếu nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Với quan điểm đó đã có thấy tư tưởng đề cao, trân trọng đối với những người hiền tài vì tác giả cho rằng người hiền tài có ảnh hưởng tới quốc gia dân tộc, quyết định sự sống còn của đất nước ấy. Người hiền tài quả chẳng khác gì báu vật của mỗi đất nước.

Tiếp đó, ông ghi lại thái độ của các đấng minh quân đối với những người hiền tài. Với những con người tài giỏi những vị vua anh minh luôn có thái độ trọng đãi, bồi dưỡng và vun trồng làm việc trước tiên, tức là đặt việc bồi dưỡng họ lên hàng đầu. Có được người hiền tài, nhà vua lại lấy việc quý chuộng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng. Các vị vua đều có những hành động cụ thể để thể hiện lòng yêu quý và đề cao đối với những người hiền tài như xướng danh lớn sau khi họ thi đỗ, cho làm quan cao trong triều, tên tuổi được khắc ghi và được hưởng những bữa tiệc linh đình, trang trọng. Thái độ trọng đãi với người tài được Thân Nhân Trung đánh giá: Triều đình mừng được người tài, không có việc gì không làm đến mức cao nhất.

Nhưng như vậy có lẽ vẫn là chưa đủ bởi vậy ở cuối phần một, tác giả đã nêu lên lí do vì sao lại cho khắc lên bia đá tên của những người hiền tài: dựng đá đề danh ở cửa Hiền Quang để tiếng thơm lưu vẻ sáng lâu dài cho và cho kẻ sĩ trông vào mà phấn chấn hâm mộ, rèn luyện danh tiết. Như vậy việc khắc tên của người hiền tài lên bia đá là hết sức cần thiết nó không chỉ làm cho tiếng thơm của những người tài được lưu với núi sông muôn đời mà còn có tác dụng khích lệ tinh thần học tập, noi gương ở những người khác.

Thân Nhân Trung đã có cách nhìn, cách đánh giá đúng đắn về vai trò của những người hiền tài đối với vận mệnh của đất nước. Tư tưởng trọng người hiền tài được ông thể hiện trong văn bản cũng chính là tư tưởng của vị minh quân Lê Thánh Tông, bởi vậy, trong đoạn văn này ông luôn gọi nhà vua là thánh minh, thánh đế minh vương. Đoạn văn đã thể hiện mối quan hệ gắn bó khăng khít giữa vua sáng và tôi hiền.

Đoạn trích có giá trị lớn về phương diện nghệ thuật, với ý văn táo bại, cứng cỏi, lập luận sắc bén, dẫn chứng thuyết phục đã thể hiện quan điểm đúng đắng đối với người hiền tài. Bài văn là lời khuyến khích động viên người hiền tài ra giúp đời, giúp nước. Dù sáng tác cách đây đã hàng thế kỉ nhưng cho đến ngày này văn bản vẫn giữ nguyên giá trị của nó.

Phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia - Bài mẫu số 10

Như vậy chúng tôi đã giới thiệu top 10 bài văn phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, các em có thể tham khảo để hoàn chỉnh bài văn của mình nhé. Có thể nói rằng “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” của Thân Nhân Trung không chỉ dừng lại trong xã hội thời Lê mà tác phẩm ấy đối với chúng ta vẫn còn nguyên giá trị, khi giáo dục đang trở thành quốc sách hàng đầu, khi văn hoá, khoa học và đội ngũ trí thức đang giữ một vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp kiến quốc đất nước hôm nay.

Đánh giá:
5/5 - (1 bình chọn)

Bình luận

Vui lòng để bình luận.