Top 5 Bài soạn Vịnh khoa thi Hương (Trần Tế Xương) (Ngữ Văn 11) hay nhất

Top 5 Bài soạn Vịnh khoa thi Hương (Trần Tế Xương) (Ngữ Văn 11) hay nhất

Trong chương trình Ngữ Văn 11, với bài học Vịnh khoa thi Hương (Trần Tế Xương), học sinh cần soạn như thế nào? Dưới đây, Topz đã sưu tầm và tổng hợp được những bài soạn Vịnh khoa thi Hương (Trần Tế Xương) dành cho các bạn học sinh lớp 11 cùng tham khảo.

1

Bài soạn tham khảo số 1

Bố cục

– Hai câu đề: Giới thiệu về kì thi

– Hai câu thực: Cảnh tượng khi đi thi

– Hai câu luận: Những ông to bà lớn đến trường thi

– Hai câu kết: Thái độ phê bình của nhà thơ với kì thi


Câu 1 (trang 34 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

Kì thi có điều khác thường là trường Nam thi lẫn với trường Hà. Từ “lẫn”: lẫn lộn, báo hiệu điều gì thiếu nghiêm túc, ô hợp, láo nháo trong kì thi.


Câu 2 (trang 34 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

– Hình ảnh:

+ Sĩ tử: lôi thôi, vai đeo lọ → dáng vẻ luộm thuộm, nhếch nhác.

+ Quan trường: ậm ọe, miệng thét loa → ra oai, nạt nộ nhưng đó là cái oai cố tạo, giả vờ.

– Nghệ thuật:

+ Sử dụng từ láy tượng thanh và tượng hình: ậm ọe, lôi thôi.

+ Đối: lôi thôi sĩ tử >< ậm ọe quan trường.

+ Đảo ngữ: Đảo trật tự cú pháp “lôi thôi sĩ tử”, “ậm ọe quan trường”.

⇒ Sự láo nháo, lộn xộn, ô hợp của trường thi, mặc dù đây là một kì thi Hương quan trong của nhà nước

⇒ Cảnh trường thi phản ánh sự suy vong của một nền học vấn, sự lỗi thời của đạo Nho.


Câu 3 (trang 34 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

– Hình ảnh:

+ Quan sứ: Viên quan người Pháp đứng đầu bộ máy cái trị của tỉnh Nam Định được tiếp đón trọng thể.

+ Mụ đầm: vợ quan sứ, ăn mặc diêm dúa, điệu đà.

⇒ Sự phô trương, hình thức, không đúng nghi lễ của một kì thi.

– Nghệ thuật đối: Lọng >< váy, trời >< đất, quan sứ >< mụ đầm → Thái độ mỉa mai, châm biếm hạ nhục bọn quan lại, thực dân.

⇒ Tất cả báo hiệu về một sự sa sút về chất lượng thi cử, bản chất của xã hội thực dân phong kiến.


Câu 4 (trang 34 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

– Tâm trạng thái độ của tác giả trước cảnh tượng trường thi: Ngao ngán, xót xa trước sự sa sút của đất nước. Thái độ mỉa mai, phẫn uất của nhà thơ với chế độ thi cử đương thời và đối với con đường khoa cử của riêng ông.

– Hai câu cuối như một lời nhắn nhủ các sĩ tử về nỗi nhục mất nước. Nhà thơ hỏi người nhưng cũng chính là hỏi mình.

Hình minh họa
Hình minh họa


2

Bài soạn tham khảo số 2

Câu 1 (trang 34 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

Hai câu đầu cho thấy kì thi có gì khác thường? (Chú ý phân tích kĩ từ “lẫn).

Lời giải chi tiết:

Hai câu thơ đầu giới thiệu hoàn cảnh của khoa thi:

Nhà nước ba năm mở một khoa,

Trường Nam thi lẫn với trường Hà.

Theo lệ thường, dưới thời phong kiến, cứ ba năm có một khoa thi Hương. Điều đó không có gì đặc biệt, song câu thơ không chỉ là lời giới thiệu. Giọng điệu hài hước thể hiện khá rõ ngay trong hai câu thơ đầu. Câu thơ như một thông báo. Khoa thi này do nhà nước tổ chức, cứ ba năm một lần thi Hương để chọn nhân tài. Đó là thông lệ. Song nó báo hiệu một cái gì khác trước. Một từ “lẫn” không chỉ giới thiệu hai trường Nam Định và Hà Nội thi chung mà báo hiệu một sự xáo trộn của việc thi cử, không còn được như trước nữa. Có nhiều hàm ý trong từ “lẫn” này. Bốn câu tiếp miêu tả rất cụ thể điểu đó.


Câu 2 (trang 34 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

Anh (chị) có nhận xét gì về hình ảnh sĩ tử và quan trường? Từ hai câu thơ 3 và 4, anh (chị) có cảm nhận như thế nào về cảnh thi cử lúc bấy giờ?

Lời giải chi tiết:

Hai câu thực miêu tả thật hài hước cảnh trường thi:

Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ,

Ậm oẹ quan trường miệng thét loa.

– Cách đảo trật tự cú pháp: “Lôi thôi sĩ tử”, “ậm oẹ quan trường” kết hợp với các từ giàu hình ảnh: lối thôi, đeo lọ cùng với những từ chỉ âm thanh: ậm oẹ, thét loa làm cho quang cảnh thi trở nên nhốn nháo, ô hợp mất đi vẻ trang nghiêm của một kì thi do quốc gia tổ chức.

Hình ảnh:

+ Sĩ tử thì lôi thôi lếch thếch mất hết vẻ nho nhã, thư sinh.

+ Quan trường không còn quyền uy, mực thước, trang trọng như trước mà như nhân vật tuồng hề “ậm oẹ, thét loa”. Người chịu trách nhiệm tổ chức kì thi và sĩ tử đi thi thật không ra thế nào.

=> Cảnh trường thi phản ánh sự suy vong của một nền học vấn, sự lỗi thời của đạo Nho.


Câu 3 (trang 34 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

Phân tích hình ảnh quan sứ, bà đầm và sức mạnh châm biếm, đả kích của biện pháp nghệ thuật đối ở hai câu 5,6.

Lời giải chi tiết:

– Sự có mặt của vợ chồng quan sứ đáng lẽ sẽ làm cho quang cảnh trường thi trang nghiêm hơn. Song trái lại, sự hiện diện của chính quyền thực dân lúc này càng tâng thêm sự chua chát. Quyết định số phận của của các sĩ tử là một kẻ ngoại bang không biết gì về Nho học. Nơi cửa Khổng sân Trình là nơi mặc sức, tự nhiên lê váy của mụ đầm. “Váy lê quét đất” đối với “Lọng cắm rợp trời” (còn làm nhục quốc thể) chao ôi thật chua chát. So với bài thơ khác “Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt – Dưới sân ông cử ngẩng đầu rồng” thì sự nhục nhã ấy chỉ là một.

– Nghệ thuật đối: Lọng >< váy, trời >< đất, quan sứ >< mụ đầm → Thái độ mỉa mai, châm biếm hạ nhục bọn quan lại, thực dân.

=> Bốn câu thơ vạch trần sự nhếch nhác, tuỳ tiện của khoa cử lúc bấy giờ. Đồng thời ngầm thể hiện nỗi xót xa chua chát của nhà thơ và người đọc.


Câu 4 (trang 34 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

Phân tích tâm trạng, thái độ của tác giả trước cảnh tượng trường thi. Lời gọi của Tú Xương ở hai câu thơ cuối có ý nghĩa tư tưởng gì?

Lời giải chi tiết:

– Hai câu kết là một câu hỏi. Nhà thơ hỏi “Nhân tài đất Bắc” tức là hỏi tầng lớp trí thức. Đó là những sĩ tử đang chăm chăm chạy theo danh vọng. Ông hỏi mà như thức tỉnh họ về nỗi nhục mất nước. Kẻ thù ngoại bang nếu vẫn có mặt ở lễ xướng danh này thì dẫu có đậu tiến sĩ ra làm quan cũng là thân phận tay sai mà thôi. Đường công danh còn có ý nghĩa gì? Hai tiếng “ngoảnh cổ” bộc lộ thái độ vừa mạnh mẽ vừa thể hiện một nỗi tủi nhục. Nhà thơ hỏi người cũng chính là hỏi mình. Giọng thơ dù đay nghiến mà vẫn có cái gì xa xót đến rưng rưng.

– Cảnh trường thi nhốn nháo, nhố nhăng làm bật lên tiếng cười chua chát về tình cảnh đất nước mất chủ quyền. Đây cũng là mâu thuẫn nội tại lúc bấy giờ không thể điều hoà được giữa kẻ sĩ muốn thi thố tài năng với đời với thực tế phi nghĩa của khoa cử học vấn.

Hình minh họa
Hình minh họa

3

Bài soạn tham khảo số 3

Bố cục

– Hai câu đề: Giới thiệu về kì thi

– Hai câu thực: Cảnh tượng khi đi thi

– Hai câu luận: Những ông to bà lớn đến trường thi

– Hai câu kết: Thái độ phê bình của nhà thơ với kì thi

Câu 1 (trang 34 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Hai câu đầu:

– Giọng thơ mang tính tự sự, kể lại cuộc thi năm Đinh Dậu theo thông lệ do nhà nước mở: ba năm một lần.

– Điểm đặc biệt: Trường Nam thi lẫn với trường Hà. Từ “lẫn”: lẫn lộn, báo hiệu điều gì thiếu nghiêm túc, ô hợp, láo nháo trong thi cử.


Câu 2 (trang 34 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

– Hình ảnh:

+ Sĩ tử: lôi thôi, vai đeo lọ → dáng vẻ luộm thuộm, nhếch nhác.

+ Quan trường: ậm ọe, miệng thét loa → ra oai, nạt nộ nhưng đó là cái oai cố tạo, giả vờ.

– Nghệ thuật:

+ Sử dụng từ láy tượng thanh và tượng hình: ậm ọe, lôi thôi.

+ Đối: lôi thôi sĩ tử >< ậm ọe quan trường.

+ Đảo ngữ: Đảo trật tự cú pháp “lôi thôi sĩ tử”, “ậm ọe quan trường”.

→ Sự láo nháo, lộn xộn của cảnh thi cử lúc bấy giờ.

=> Cảnh trường thi phản ánh sự suy vong của một nền học vấn, sự lỗi thời của đạo Nho.


Câu 3 (trang 34 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

– Hình ảnh:

+ Quan sứ: công sứ Nam Định, được tiếp đón trọng thể.

+ Mụ đầm: vợ quan sứ, ăn mặc diêm dúa, điệu đà.

→ Sự phô trương, hình thức, không đúng nghi lễ của một kì thi.

– Nghệ thuật đối: Lọng >< váy, trời >< đất, quan sứ >< mụ đầm → Thái độ mỉa mai, châm biếm hạ nhục bọn quan lại, thực dân.

=> Tất cả báo hiệu về một sự sa sút về chất lượng thi cử, bản chất của xã hội thực dân phong kiến.


Câu 4 (trang 34 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Hai câu cuối là sự thức tỉnh các sĩ tử và thái độ của nhà thơ trước cảnh nước mất:

– Câu hỏi tu từ mang ý nghĩa thức tỉnh các sĩ tử về nỗi nhục mất nước. Nhà thơ hỏi người nhưng cũng chính là hỏi mình.

– Giọng thơ mang đậm chất trữ tình có tác dụng lay tỉnh lương tâm, lương tri của các sĩ tử.

Hình minh họa
Hình minh họa

4

Bài soạn tham khảo số 4

Bố cục

– Hai câu đầu: Sự xáo trộn của trường thi…

– Bốn câu tiếp: Cảnh trường thi nhốn nháo ô hợp.

– Hai câu cuối: Thức tỉnh các sĩ tử và nỗi xót xa của nhà thơ trước cảnh mất nước.

Nội dung bài học

Đoạn trích tái hiện tình trạng thi cử trong buổi đầu chế độ thuộc địa nửa phong kiến, đồng thời thể hiện tâm sự lo nước thương đời của tác giả


Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 34 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

– Sự khác thường trong kì thi: thí sinh Hà Nội và Nam Định thi chung ở Nam Định (theo chủ trương giảm bớt kì thi để đến năm 1915, 1918 bỏ hẳn kì thi chữ Hán). Từ lẫn chỉ sự lẫn lộn, báo trước sự thiếu nghiêm túc, ô hợp, láo nháo trong thi cử.


Câu 2 (trang 34 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

– Hình ảnh:

+ Sĩ tử: Nhếch nhác, lôi thôi

+ Quan trường: ậm ọe, miệng thét loa: ra oai một cách giả tạo

– Nghệ thuật:

+ Sử dụng từ láy tượng thanh và tượng hình: ậm ọe, lôi thôi.

+ Đối: lôi thôi sĩ tử >< ậm ọe quan trường.

+ Đảo ngữ

⇒ Cảnh thi cử láo nháo, lộn xộn, trường thi đầy những cảnh chướng tai gai mắt (sĩ tử nhếch nhác, mụ đầm thì váy lê,..)


Câu 3 (trang 34 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

– Hình ảnh:

+ Quan sứ: được tiếp đón long trọng với võng lọng rợp trời

+ Mụ đầm: ăn mặc diêm dúa

– Nghệ thuật đối: Lọng cắm rợp trời >< váy lê quết đất, quan sứ đến >< mụ đầm ra => Sự mỉa mai, châm biếm sâu cay, gọi ông quan Tây thì trang trọng, nhưng gọi vợ ông quan là con mụ chẳng ra gì, đó là cách chửi của Tú Xương.


Câu 4 (trang 34 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

– Tâm trạng thái độ của tác giả trước cảnh tượng trường thi: Sự mỉa mai, châm biếm với chế độ khoa cử láo nháo, lôi thôi, niềm xót xa trước hiện thực đất nước

– Lời nhắn gọi ở hai câu cuối: lay gọi sĩ tử – những trí thức, những nhân tài đất nước trong hiện tại cần thấy sự nhục nhã của hoàn cảnh, thân phận, của đất nước mà căm ghét bọn ngoại bang, bọn sứ đầm, không quên nhục mất nước.

Hình minh họa
Hình minh họa

5

Bài soạn tham khảo số 5

Trả lời câu 1 (trang 34 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

Hai câu đầu cho thấy sự khác thường của khoa thi Đinh Dậu (1897):

– Nhà nước: phản ánh tính chất bù nhìn của triều đình phong kiến.

– Lẫn: gợi quang cảnh lẫn lộn, bát nháo khi trường thi Hà Nội và Nam Định thi chung.

Trả lời câu 2 (trang 34 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

Hình ảnh sĩ tử và quan lại ở trường thi:

– Biện pháp đảo ngữ (lôi thôi, ậm ọe): sĩ tử và quan trường hiện lên luộm thuộm, nhếch nhác, thảm hại, sa sút nho phong sĩ khí.

– Hình ảnh vai đeo lọ, miệng thét loa: ồn ào, lố bịch, bát nháo, mất hết diện mạo tôn nghiêm và tôn ti trật tự.

=> Cảnh thi cử nhốn nháo, nhếch nhác, không còn không khí trang trọng, thiêng liêng của các kì thi xưa.

Trả lời câu 3 (trang 34 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

Hình ảnh quan sứ, bà đầm trong hai câu luận:

– Quan sứ, bà đầm: được đón tiếp long trọng ở trường thi, những nhân vật mới đại diện cho chế độ thực dân.

– Phép đối sâu cay: lọng quan sứ >< váy bà đầm: châm biếm, hạ nhục bọn cướp nước và bán nước, đồng thời thể hiện nỗi chua xót, nhục nhã cho số phận sĩ tử thời mạt vận và cho dân tộc nô lệ nói chung.

Trả lời câu 4 (trang 34 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

– Hai câu thơ cuối thấm đẫm tính trữ tình, thể hiện tâm trạng đau xót, phẫn uất và nỗi lo lắng cho tình hình đất nước.

– Tình yêu nước thiết tha, sâu nặng của nhà thơ.

Hình minh họa
Hình minh họa

Top 5 Bài soạn Vịnh khoa thi Hương (Trần Tế Xương) (Ngữ Văn 11) hay nhất

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chuyển lên trên