Top 10 bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong Truyện Kiều hay nhất

5.0 (1 bình chọn)
71

Chắc hẳn mỗi người dân Việt Nam, ai mà không được nghe câu Kiều qua lời ru, lời ngâm thơ của bà, của mẹ. Cuộc đời người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng lắm nỗi truân chuyên qua những lời thơ da diết, chân thực của Nguyễn Du bao nhiêu năm vẫn khiến người đọc rơi lệ. “Truyện Kiều” là kiệt tác của thi hào dân tộc Nguyễn Du, là di sản văn hóa quý giá của nước ta.  Xuyên suốt tác phẩm chúng có thể thấy được những giá trị nhân đạo thấm nhuần vô cùng sâu sắc. 

Sau đây là tổng hợp 10 bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong "Truyện Kiều" hay nhất mà chúng tôi sưu tầm được. Cùng tham khảo nhé! 

1

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong Truyện Kiều 1

Tên tác phẩm: Truyện Kiều

Tác giả: Nguyễn Du (1766-1820)

Vài nét về tác phẩm: Tác phẩm kể lại cuộc đời, những thử thách và đau khổ của Thúy Kiều, một phụ nữ trẻ xinh đẹp và tài năng, phải hy sinh thân mình để cứu gia đình. Để cứu cha và em trai khỏi tù, cô bán mình kết hôn với một người đàn ông trung niên, không biết rằng hắn ta là một kẻ buôn người, và bị ép làm kĩ nữ trong lầu xanh.

Nội dung phân tích: Trân trọng vẻ đẹp của con người. Thương xót cho số phận đau thương của con người. Tố cáo, phê phán những thế lực chà đạp lên con người. Thấu hiểu ước mơ của con người.

Nguyễn Du là một đại thi hào dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới. Truyện Kiều là tập đại thành của ông kết tinh những giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc. Đọc các đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”, “Kiều ở lầu Ngưng Bích”,“Mã Giám Sinh mua Kiều”, ta thấy tác giả đã xót thương cho số phận bất hạnh của Thúy Kiều nhưng đó cũng đồng thời là nỗi xót thương cho số phận người phụ nữ trong xã hội cũ.

Giá trị nhân đạo của tác phẩm trước hết biểu hiện ở tấm lòng thương xót đối với người phụ nữ bất hạnh. Trong đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều ngòi bút nhân đạo của Nguyễn Du giúp người đọc thấy được tấm lòng của ông cho nhân vật Thúy Kiều. Thúy Kiều là người con hiếu thảo. Trước cơn gia biến, nàng quyết định bán mình chuộc cha và em. Bằng bút pháp ước lệ, tác giả làm nổi bật tâm trạng tủi hổ, cảm giác nhục nhã, ê chề của Kiều khi nàng bị coi như một món hàng. Một người con gái tài sắc, đức hạnh như nàng Kiều lại trở thành một món hàng đem ra mua bán. Không những thế,bọn chúng còn “Cò kè bớt một thêm hai”, Nguyễn Du đã cảm thương cho nỗi đau khổ của nàng khi Mã Giám Sinh “cân sắc cân tài”. Nguyễn Du đã thấu hiểu tâm trạng Kiều. Đó chính là một biểu hiện của tư tưởng nhân đạo sáng ngời trong tác phẩm. Kiều ở lầu Ngưng Bích là một đoạn trích tiêu biểu cho nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật trong Truyện Kiều, tác giả đã giúp cho người đọc hiểu được nỗi đau, nỗi nhớ thương, nỗi cô đơn, lo sợ của nàng Kiều. Phải bán mình chuộc cha, trao duyên cho em, Kiều rơi vaò tay Mã Giám Sinh và Tú Bà. Kiều không muốn tiếp khách làng chơi nên nàng đã tìm đến cái chết nhưng nàng lại được cứu sống. Tú Bà vì sợ Thúy Kiều chết đi thì “Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma” nên dỗ ngon ngọt và vờ đưa nàng ra ở lầu Ngưng Bích đợi tìm nơi tử tế để gả chồng. Thực chất lầu Ngưng Bích là nơi giam lỏng Thúy Kiều - nơi khóa kín tuổi xuân của nàng. Nơi đây cũng chính là điểm khởi đầu cho quãng đường lưu lạc đầy đau thương, tủi nhục của Kiều.

Ngòi bút của Nguyễn Du như nhỏ lệ khi miêu tả cảnh vật thông qua tâm trạng của Thúy Kiều. Giữa thiên nhiên vắng lặng và mênh mông, không một bóng người, Kiều chỉ còn thấy “bốn bề bát ngát xa trông”. Một cảm giác cô dơn, buồn tủi và bẽ bàng xâm chiếm tâm hồn nàng. Nàng xót xa cho thân phận, số kiếp mình:

Bẽ bàng mây sớm đèn khuya

Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.

Phải chăng đó cũng chính là nỗi xót đau của tác giả dành cho những người phụ nữ tài sắc nhưng bất hạnh như Thúy Kiều?

Giá trị nhân đạo của tác phẩm thể hiện ở chỗ tác giả ca ngợi vẻ đẹp ngoại hình cũng như vẻ đẹp phẩm chất của chị em Thúy Vân, Thúy Kiều. Đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” tác giả đã ca ngợi vẻ đẹp của Thúy Vân, Thúy Kiều bằng những lời tuyệt mĩ. Miêu tả Thúy Vân, ngòi bút của Nguyễn Du thể hiện sự trân trọng: Vân xem trang trọng khác vời. Hai chữ “trang trọng” nói lên vẻ đẹp cao sang, quý phái của Thúy Vân. Vẻ đẹp trang trọng, đoan trang của người thiếu nữ được so sánh với những thứ cao đẹp trên đời: trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc. Tác giả đã sử dụng những hình ảnh thiên nhiên có vẻ đẹp đặc biệt, trong trắng, tinh khiết, rực rỡ để miêu tả vẻ đẹp của Thúy Vân. Khuôn mặt nàng đẹp như trăng rằm. Nụ cười tươi như hoa. Giọng nói trong trẻo thoát ra từ hàm răng ngọc ngà. Làn tóc mềm mại, thướt tha đẹp hơn mây trời. Màu trắng của tuyết vẫn không thể sánh bằng làn da trắng trắng ngần của Thúy Vân.

Thiên nhiên cũng phải thua, phải nhường sắc đẹp của nàng. Bằng biện pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ, tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp trung thực, phúc hậu mà quý phái của người thiếu nữ. Chân dung của Thúy Vân là chân dung mang tính cách số phận, vẻ đẹp của Vân tạo nên sự êm đềm, hòa hợp với xung quanh. Điều đó dự báo cuộc đời nàng sẽ suôn sẻ, hạnh phúc. Phải là người biết yêu quý cái đẹp, biết trân trọng cái đẹp Nguyễn Du mới có được sự miêu tả như thế. Ca ngợi Thúy Kiều, Nguyễn Du không chỉ ca ngợi vẻ đẹp hình thức mà tác giả còn ca ngợi vẻ đẹp về mặt tâm hồn, tài năng. Cũng như lúc tả Thúy Vân, câu thơ đầu khái quát đặc điểm nhân vật: “Kiều càng sắc sảo, mặn mà”. Nàng sắc sảo về trí tuệ, mặn mà về tâm hồn, tình cảm. Gợi tả vẻ đẹp của Thúy Kiều, tác giả vẫn dùng hình tượng nghệ thuật ước lệ: “thu thủy” (nước mùa thu), “xuân sơn” (núi mùa xuân), hoa, liễu. Nét vẽ của thi nhân thiên về gợi, tạo một ấn tượng chung về vẻ đẹp của một giai nhân tuyệt thế.

Đáng lưu ý là khi họa bức chân dung Thúy Kiều, tác giả tập trung gợi tả vẻ đẹp đôi mắt, bởi đôi mắt là sự thể hiện phần tinh anh về tâm hồn và trí tuệ. Cái sắc sảo của trí tuệ, cái mặn mà của tâm hồn đều liên quan đến đôi mắt. Hình ảnh ước lệ “làn thu thủy” – làn nước mùa thu gợn sóng gợi lên thật sống động vẻ đẹp của đôi mắt trong sáng, long lanh, linh hoạt.

Còn hình ảnh ước lệ “nét xuân sơn” – nét núi mùa xuân lại gợi lên đôi lông mày thanh tú trên gương mặt trẻ trung. Khi tả Thúy Vân, tác giả chủ yếu gợi tả nhan sắc mà không thể hiện cái tài, cái tình của nàng. Thế nhưng, khi tả Kiều, nhà thơ tả sắc một phần còn dành đến hai phần để tả tài năng. Tài của Kiều đạt tới mức lí tưởng, theo quan niệm thẩm mĩ phong kiến gồm đủ cả: cầm, kì, thi, họa. Đặc biệt, tài đánh đàn của nàng đã là sở trường, năng khiếu, vượt lên trên mọi người: “Cung thương làu bậc ngũ âm. Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương”. Nhấn mạnh cái tài của Thúy Kiều cũng là để ngợi ca cái tâm đặc biệt của nàng. Cung đàn bạc mệnh mà Thúy Kiều tự sáng tác chính là sự ghi lại tiếng lòng của một trái tim đa sầu đa cảm.

Như vậy, vẻ đẹp của Thúy Kiều là sự hội tụ của cả sắc – tài – tình. Tác giả đã dùng câu thành ngữ “nghiêng nước nghiêng thành” để đặc tả giai nhân. Sắc đẹp của Thúy Kiều có thể làm cho người ta say mê đến nỗi mất thành mất nước. Chân dung Thúy Kiều cũng là chân dung mang tính cách số phận. Vẻ đẹp của Kiều làm cho tạo hóa phải ghen ghét, đố kỵ “hoa ghen”, “liễu hờn”, báo hiệu số phận của nàng gặp nhiều gian truân, đau khổ. Rõ ràng phải là người có tấm lòng yêu thương mới thấy hết được vẻ đẹp của những con người bất hạnh để mà ca ngợi. Tình cảm xót thương, sự chân trọng về sắc đẹp và tài năng Thúy Kiều giúp ta hiểu được giá trị nhân đạo thể hiện qua các đoạn trích này nói riêng, trong tác phẩm Truyện Kiều nói chung.

Giá trị nhân đạo còn thể hiện ở thái độ khinh bỉ, sự căm ghét của tác giả với những kẻ “buôn thịt bán người” mà tay “sinh viên” họ Mã kia là một điển hình tiêu biểu. Tác giả đã vạch trần bộ mặt xấu xa, đểu cáng của tay buôn người đội lốt sinh viên trường Quốc Tử Giám bằng một loạt các chi tiết nói lên sự lỗ mãng, dị hợm của hắn. Mặc dù đã “ngoại tứ tuần” nhưng vẫn ăn mặc bảnh bao, mày râu thì nhẵn nhụi không phù hợp với lứa tuổi của hắn:

“Quá niên trạc ngoại tứ tuần

Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao.”

Về hành động, cử chỉ lại càng bộc lộ bản chất của một tên thiếu học thức, vô phép tắc: “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng”. Chỉ với từ “tót”, Nguyễn Du như giáng một đòn chí mạng vào cái mặt giả danh tri thức của hắn. về bản chất của hắn lại càng xấu xa, để hắn lộ mặt con buôn bằng hình ảnh: “Cò kè bớt một thêm hai”. Gặp gia đình đang cơn tai biến cần giúp đỡ, đáng lẽ một “sinh viên” như hắn phải biết đồng cảm, xót thương, ra tay giúp đỡ nhưng hắn đã không làm thế. Bộ mặt của kẻ buôn người đã được Nguyễn Du lột tả một cách đầy đủ nhất. Miêu tả nhân vật Mã Giám Sinh cũng là để nói lên thái độ căm ghét của tác giả đối với kẻ kẻ là đại diện cho xã hội đồng tiền, đồng tiền đã chà đạp lên mọi giá trị tốt đẹp ở đời - "Trong ta đã sẵn đồng tiền; Dễ dàng đổi trắng thay đen khó gì”.

Với “Truyện Kiều”, Nguyễn Du đã cất lên tiếng nói cảm thông, xót xa cho thân phận người phụ nữ, tiếng nói ngợi ca vẻ đẹp của con người và tiếng nói lên án tố cáo xã hội xấu xa tàn bạo, toàn lừa lọc xảo trá mà các đoạn trích Chị em Thúy Kiều, Kiều ở lầu Ngưng Bích, Mã Giám Sinh mua Kiều là những điển hình cho tư tưởng nhân đạo của tác giả. Qua đó chúng ta cũng thấy được trái tim nhân đạo bao la của tác giả. Nguyễn Du và “Truyện Kiều” sẽ trường tồn mãi với thời gian.

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong Truyện Kiều 1
2

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong Truyện Kiều 2

Tên tác phẩm: Truyện Kiều

Tác giả: Nguyễn Du (1766-1820)

Vài nét về tác phẩm: Tác phẩm kể lại cuộc đời, những thử thách và đau khổ của Thúy Kiều, một phụ nữ trẻ xinh đẹp và tài năng, phải hy sinh thân mình để cứu gia đình. Để cứu cha và em trai khỏi tù, cô bán mình kết hôn với một người đàn ông trung niên, không biết rằng hắn ta là một kẻ buôn người, và bị ép làm kĩ nữ trong lầu xanh.

Nội dung phân tích: Trân trọng vẻ đẹp của con người. Thương xót cho số phận đau thương của con người. Tố cáo, phê phán những thế lực chà đạp lên con người. Thấu hiểu ước mơ của con người.

“Trải qua một cuộc bể dâu

Câu thơ còn đọng nỗi đau nhân tình

Nổi chìm kiếp sống lênh đênh

Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều”

Thật vậy, mười lăm năm trời lưu lạc của nàng Kiều là một thiên bạc mệnh thấm đầy lệ làm xúc động lòng người qua bao thế hệ: “Cảo thơm lần giở trước đèn…”. Lật giở từng trang văn Nguyễn Du, ta thấy tinh thần nhân đạo được phổ vào văn chương nghệ thuật như suối nguồn dạt dào tuôn chảy, như dòng sông tưới tắm tâm hồn để cho từng dòng thơ câu chữ ấy chở nặng những hạt phù sa đổ vào dòng sông nhân bản mênh mông vô tận. Xây dựng hình tượng và số phận nàng Kiều, dường như Nguyễn Du đang nói thay lòng mình, thể hiện khát vọng công bằng cho nhân dân xã hội, cho những số phận tài hoa mà bạc mệnh trong xã hội phong kiến xưa.

Tinh thần nhân đạo là cảm hứng nhân văn bao trùm lên toàn bộ “Truyện Kiều”. Cốt lõi của cảm hứng nhân đạo là lòng thương. Bản chất của nó là chữ tâm đối với con người. Đó là tiếng nói ngợi ca những giá trị, phẩm chất tốt đẹp của con người tài sắc, lòng hiếu nghĩa, vị tha, chung thủy trong tình yêu... Đó là tấm lòng của nhà thơ đồng tình với những ước mơ và khát vọng về tình yêu lứa đôi, về tự do và công lý; là sự đồng cảm, xót thương trước bao nỗi đau, bị vùi dập của con người, nhất là đối với người phụ nữ “bạc mệnh” trong xã hội phong kiến… Một tác phẩm mang cảm hứng nhân đạo khi nó ca ngợi phẩm chất cao đẹp của con người, không những thế phải đồng cảm xót thương những số phận bị chà đạp, lên án tố cáo những thế lực thù địch, đồng thời phải biết đồng tình với khát vọng và ước mơ chính đáng của con người. Nguyễn Du yêu thương con người đến tận cùng, vì vậy các tác phẩm của ông cũng nhân đạo đến tận cùng. Cảm thương cho những kiếp hồng nhan mà đa truân, tài tử mà đa cùng không phải là cảm hứng mới mẻ trong văn học, nhưng phải đến Nguyễn Du, người đọc mới thực sự đau lòng vì “những điều trông thấy” bởi Nguyễn Du viết về nỗi đau của người khác như nỗi đau của chính mình. Sắc đẹp khuynh thành và tài năng hiếm có của Thúy Kiều đã được Nguyễn Du đặc tả trong hai câu thơ:

“Một hai nghiêng nước nghiêng thành

Sắc đành đòi một, tài đành họa hai”

Vẻ đẹp của nàng thật có một không hai trên thế gian này. Thế nhưng ẩn giấu đằng sau những “làn thu thủy” trong trẻo và những “nét xuân sơn” tươi thắm của ngọn núi mùa xuân ấy là cả một tài năng toàn diện, lỗi lạc rất đáng tự hào:

“Thông minh vốn sẵn tính trời,

Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.”

Tài hoa của nàng không chỉ bộc lộ rực rỡ ở tài thi họa mà còn ở cung đàn có sức thuyết phục tuyệt đối. Cái thông minh và tài hoa ấy cũng chính là biểu hiện phong phú của một trái tim nồng nàn, sôi nổi, một tấm lòng giàu lòng vị tha. Cung đàn đầy cảm xúc của lần tình tự với Kim Trọng chính là nỗi sợ hãi của nàng Kiều thông minh linh cảm trước số phận của những người yếu thế mà cũng chính là tiếng lòng dám yêu đương sôi nổi của một cô gái sống cách đây hai trăm năm, khi mà quan hệ chân chính giữa nam nữ còn chịu nhiều ngăn cấm bởi muôn vàn luật lệ khắt khe của lễ giáo phong kiến. Mối tình vượt lễ giáo phong kiến ấy cũng chính là một mối tình rất trong sáng, thủy chung. Kiều là một thiếu nữ rất một mực đoan trang, hiền thục, nàng yêu đương sôi nổi nhưng cũng biết kiềm chế cảm xúc để ngăn chặn những bước đi quá trớn không tốt cho tình yêu. Khi nghe Thuý Kiều đàn, Kim Trọng càng mê mẩn, say đắm nàng:

“Sóng tình dường đã xiêu xiêu,

Xem trong âu yếm có chiều lả lơi.”

Còn gì đau xót hơn khi mối tình Kim - Kiều vừa chớm nở đã li tan. Lời thề với Kim Trọng vừa trao thì Kiều lại phải bán mình vì chữ hiếu. Trong Truyện Kiều tình tiết “trao duyên” cũng là một nét đẹp của tình cảm nhân đạo. Trước bi kịch cuộc đời “hiếu tình khôn lẽ hai đường vẹn hai” Kiều đã “cậy em” và trao duyên cho Thuý Vân thay mình trả nghĩa “nước non” với chàng Kim:

“Ngày xuân em hãy còn dài,

Xót tình máu mủ, thay lời nước non.”

Thuý Vân nên mối tơ duyên với Kim Trọng, Kiều cũng phần nào bớt đi cảm giác có lỗi trong sự bội ước. Thế nhưng trước ngày đầu tan vỡ ấy Kiều tránh sao khỏi đau đớn xé ruột:

“Bây giờ trâm gãy bình tan,

Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân.”

Làm sao Kiều có thể quên được mối tình đầu ngây thơ trong trắng ấy bởi lẽ:

“Ôi cái buổi ban đầu lưu luyến ấy

Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên.” (Thế Lữ)

Và, khi Kiều ở lầu Ngưng Bích, bị Tú Bà "khóa xuân", trong cái nỗi buồn mênh mang vô tận, không thể gì làm vơi bớt, không có ai để sẻ chia – nỗi buồn của một con người hoàn toàn cô đơn giữa một khung cảnh cô đơn, vắng lặng; Kiều chỉ còn biết nhớ về người thân. Thật đúng như Chu Mạnh Trinh đã từng viết: “Tấm lòng này như tuyết như băng, mối sầu nọ qua ngày qua tháng… Ngọc kia không vết, giá liên thanh không vết so bì. Nước đã trôi xuôi, hồn cựu mộng vẫn còn vơ vẩn”. Nguyễn Du đã xây dựng một thiên diễm tình tuyệt mỹ Kim – Kiều. Trái tim nhân hậu của Nguyễn Du đã thương cảm sâu sắc cho mối tình đầu tan vỡ ấy chính vì thế nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật độc đáo, cực kỳ tinh tế trong bút pháp điêu luyện. Nhà thơ đã đảo tình lẫn hiếu, trái với trật tự cương thường của đạo lý phong kiến khi miêu tả Kiều nhớ Kim Trọng trước, nhớ cha mẹ sau. Nếu trước kia, Nguyễn Du đã không tiếc lời ngợi ca thiên diễm tình tuyệt đẹp vượt lễ giáo phong kiến thì giờ đây, khi mối tình đầu trong sáng ấy "trâm gãy bình tan"; chính ông lại đồng cảm hết sức với tâm sự của người con gái đang yêu buộc phải xa cách người yêu. Nguyễn Du thật thấu hiểu nhân tình!

Nỗi nhớ người thân cũng không làm

Kiều khuây khỏa nỗi buồn rợn ngợp.

Buồn mà trông ra cảnh vật:

Buồn trông cửa biển chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.

Buồn trông ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác biết là về đâu

Buồn trông nội cỏ rầu rầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh

Ầm ầm tiếng sóng quanh quanh ghế ngồi

Tám câu thơ dựng lên bốn bức tranh buồn được bắt đầu bằng hai chữ "Buồn trông". Dường như ở đây không có con người, chỉ có cái nhìn hay đúng hơn, chỉ có tâm trạng. Tâm trạng của Kiều mà cũng là tâm trạng của Nguyễn Du. Lòng nhà thơ tưởng như cũng hòa vào với lòng nhân vật, cùng đồng cảm, buồn thương, đau xót với nhân vật. Lòng của Nguyễn Du trong Truyện Kiều trăm lần đứt đoạn, ngàn lần thấu cảm, thấy rõ trong từng câu thơ nghiến nát:

“Dở dang nào có hay gì

Đã tu - tu trót - qua thì - thì thôi”

Về Vấn đề Tố như đặt ra, Xuân Diệu nói: “Đặt ra một cách ghê gớm như lửa châm nhà đã cháy, như chuông treo sợi chỉ mành sắp đứt, như thòng lòng đã giết vào cổ người”. Truyện Kiều không phải là một bài ca hân hoan về giá trị con người mà trở thành “một câu chuyện thê thảm về vận mệnh con người trong xã hội cũ.” Số phận con người – đó là điều day dứt khôn nguôi trong trái tim Nguyễn Du. Trái tim nhân ái bao la của nhà thơ đã dành cho kiếp người tài sắc bạc mệnh sự cảm thông và xót xa sâu sắc. Sau khi bán mình cho Mã Giám Sinh, Kiều đã trải qua mười lăm năm trời lưu lạc, nếm đủ mùi cay đắng, nhục nhã ê chề “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”. Gặp được Từ Hải, hạnh phúc chợt đến rồi lại chợt đi khi Từ Hải mắc lừa Hồ Tôn Hiến bị giết chết giữa loạn quân. Kiều phải hầu rượu trong bữa tiệc quan, bị ép gả cho viên thổ quan… Uất ức quá, Kiều phải nhảy xuống sông Tiền Đường tự vẫn. Nguyễn Du đã phải xót thương kêu lên:

“Thương thay cũng một kiếp người,

Hại thay mang lấy sắc tài làm chi.

Những là oan khổ lưu ly

Chờ cho hết kiếp còn gì là thân!...”

Câu thơ của Nguyễn Du như một tiếng nấc đến não lòng. Từng từ, từng chữ tựa như những giọt lệ chứa chan tình nhân đạo của tác giả khóc thương cho số đoạn trường. Tinh thần nhân đạo trong Truyện Kiều còn là tiếng nói đồng tình, đồng cảm của thi hào Nguyễn Du với những ước mơ về tự do công lý của con người bị áp bức dưới chế độ cũ. Từ Hải ân nhân của Thuý Kiều là một hình tượng sử thi, một anh hùng xuất chúng có tài năng đích thực và sức mạnh phi thường: “Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài”. Người anh hùng văn võ song toàn ấy có lý tưởng sống khác hẳn với bọn “cá chậu, chim lồng” quen “vào luồn ra cúi” để tranh nhau hai chữ công hầu. Ở Từ Hải, đó chính là một chí khí ngang tàng đội trời đạp đất ở đời “dọc ngang trời rộng, vẫy vùng bể khơi’. Chàng thiết tha với một lý tưởng:

“Chọc trời khuấy nước mặc dầu,

Dọc ngang nào biết trên đầu có ai!”

Trong xã hội phong kiến ý vua là ý trời, mọi thần dân chỉ có thể cúi rạp mình xuống mà thôi, thế nhưng ở đây, thái độ Từ Hải về nhiều mặt đều mang ý nghĩa phản kháng mạnh mẽ chế độ phong kiến. Nó biểu hiện sự quật khởi của một thời đại khi hàng loạt các cuộc khởi nghĩa của nông dân bùng lên dữ dội thì cũng là lúc ý chí chống đối lại tôn ti trật tự khắc nghiệt kia nảy nở trong đầu óc những người bị áp bức. Cũng như Kim Trọng sau này, Từ Hải biết rõ giá trị phẩm chất cao đẹp của Kiều. Ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên Từ Hải đã bắt gặp những điều ấy, chính vì thế mà Từ Hải luôn luôn xem Kiều là người tri kỷ của mình, đối xử với Kiều bằng một mối tình trước sau như một, khi “vinh hoa” cũng như lúc “phong trần”. Ngoài ra, Từ Hải còn là một con người rất tự tin, thẳng thắn.

Đọc những trang viết của Nguyễn Du, chúng ta thấy tình yêu thương con người, trăn trở với số phận từng con người, nhất là những người đang đau khổ, để hướng ngòi bút của mình vào đó. Nhà thơ tự gọi mình bằng tên chữ "Tố Như" không phải mong "lưu danh thiên cổ" mà chỉ là tâm sự của 1 nỗi lòng tha thiết với cuộc đời. Mộng Liên Đường Chủ Nhân (1820) bình luận: "… Lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn đứt ruột… Tố Như Tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trong thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời, thì tài nào có cái bút lực ấy". Nếu là một tâm hồn không bị sóng gió vùi dập, một trái tim không thổn thức trước những nỗi đắng cay của bức tranh thế sự, một lương tâm không phẫn nộ trước những thói đời vô nhân bạc nghĩa, thì Nguyễn Du, dẫu có tài ba lỗi lạc đến đâu cũng không tìm ra được nhưng âm điệu, những vần thơ khiến cho người đọc trong cuộc nghe như khóc, như than, như uất ức, như oán hờn. Câu thơ còn giống như tâm trạng bi phẫn của nhà thơ trước thời cuộc. Khóc người xưa, nhà thơ tự khóc cho chính mình, giọt lệ chảy quanh kết lại 1 bóng hình Nguyễn Du, lặng lẽ cô đơn khiến người đọc phải se lòng khi ngẫm đến những nỗi đau thấm thía và dày vò tinh thần của những người tài hoa phải sống trong bóng đêm hắc ám của 1 xã hội rẻ rúng tài năng:

Bỗng quý cô Kiều như đời dân tộc

Chữ kiên trinh vượt trăm sóng Tiền

Đường Chàng Kim đã đến tìm, lau giọt khóc

Và lò trầm đêm ấy tỏa bay hương

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong Truyện Kiều 2
3

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong Truyện Kiều 3

Tên tác phẩm: Truyện Kiều

Tác giả: Nguyễn Du (1766-1820)

Vài nét về tác phẩm: Tác phẩm kể lại cuộc đời, những thử thách và đau khổ của Thúy Kiều, một phụ nữ trẻ xinh đẹp và tài năng, phải hy sinh thân mình để cứu gia đình. Để cứu cha và em trai khỏi tù, cô bán mình kết hôn với một người đàn ông trung niên, không biết rằng hắn ta là một kẻ buôn người, và bị ép làm kĩ nữ trong lầu xanh.

Nội dung phân tích: Trân trọng vẻ đẹp của con người. Thương xót cho số phận đau thương của con người. Tố cáo, phê phán những thế lực chà đạp lên con người. Thấu hiểu ước mơ của con người.

Nguyễn Du là nhà thơ lớn của nước ta vào giai đoạn thế kỷ 19. Truyện Kiều là tác phẩm lớn nhất, là niềm tự hào của nền văn học nước nhà thời bấy giờ. Phân tích giá trị nhân đạo của Truyện Kiều để thấy được tài năng nghệ thuật của Nguyễn Du. Giá trị nhân đạo của Truyện Kiều được thể hiện thông qua sự xót xa cho số phận thương đau của con người thời bấy giờ. Đồng thời lên án, phê phán sự áp bức bóc lột của các thế lực phong kiến chà đạp lên giá trị con người. Nguyễn Du thể hiện giá trị nhân đạo phổ biến thông qua các đoạn trích “Chị em Thúy Kiều, Kiều ở lầu Ngưng Bích, Mã giám sinh mua Kiều, Kiều báo ân báo oán”

“Trải qua một cuộc Bể dâu

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”

Bao trùm toàn bộ Truyện Kiều là tinh thần nhân đạo, cảm hứng nhân văn. Điều này được Nguyễn Du thể hiện thông qua việc ngợi ca vẻ đẹp của con người về tài sắc, sự vị tha, hiếu nghĩa, chung thủy trong tình yêu,..Đó là sự xót thương, đồng cảm của Nguyễn Du trước những khát vọng ước mơ về tình yêu đôi lứa, công lý và sự tự do. Đồng thời còn là sự xót thương trước những số phận con người, người phụ nữ Việt Nam thời bấy giờ, “bạc mệnh”, bị vùi dập bởi xã hội phong kiến. Có thể thấy, Nguyễn Du vô cùng đồng cảm và trân trọng những người dân bị chà đạp, áp bức bóc lột bởi các thế lực hào cường ác bá.

Phân tích giá trị nhân đạo của Truyện Kiều để thấy rõ tiếng nói ngợi ca những phẩm chất, giá trị tốt đẹp của con người thông qua hình tượng nhân vật Kiều. Kiều là hiện thân của tài năng, một người phụ nữ tài sắc vẹn toàn. Kiều đẹp “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”.”nghiêng nước, nghiêng thành” thông minh đa tài:

“Thông minh vốn sẵn tính trời,

Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm”.

Ngoài Kiều, Kim Trọng cũng là nhân vật được Nguyễn Du cực kì trân trọng khi miêu tả chàng, một tài tử “vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa”, một văn nhân đa tài. Kim Trọng hội tụ đủ những phẩm chất của một “thiên tài”””văn chương nết đất, thông minh tính trời”. Mỗi khi chàng bước đi, hoa lá đều trở nên có sức sống một cách diệu kỳ:

“Hài văn lần bước dặm xanh,

Một vùng như thể cây quỳnh cành dao”.

Mối tình của Thúy Kiều và Kim Trọng được xem là một mối tình kinh điển của trời đất. Tình yêu vượt qua tất cả những rào cản, khuôn khổ của lễ giáo thời phong kiến. Một tình yêu chân thành, trong sáng và đầy thủy chung, xứng đôi vừa lứa “người quốc sắc, kẻ thiên tài”. Qua đó Nguyễn Du không chỉ ca ngợi vẻ đẹp, giá trị con người mà còn ca ngợi tình yêu đôi lứa, khát vọng lứa đôi, bất chấp mọi chông gai, vượt qua mọi khó khăn thử thách để đến được với nhau.

Khi xây dựng nhân vật Kiều, Nguyễn Du đã lấy đúng hình tượng của những người phụ nữ “hồng nhan bạc phận” thời phong kiến. Kiều là người con hiếu thảo, cha bị tù tội do gia đình gặp biến cố, bọn tham quan hãm hại “sạch sành vét cho đầy túi tham”. Vì cứu cha và gia đình, Kiều đã quyết định hi sinh đi hạnh phúc riêng của bản thân mình. Kiều bán mình chuộc cha. Hành động của Kiều chứa đựng tinh thần nhân đạo, sự hiếu thảo, hiếu nghĩa khiến người đọc không khỏi xúc động xót xa.

“Hạt mưa sá nghĩ phận hèn,

Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân”

hay:

“Thà rằng liều một thân con,

Hoa dù rã cánh, lá còn xanh cây”.

Phân tích giá trị nhân đạo của Truyện Kiều để thấy được con đường gian khổ sắp tới mà Kiều phải đi vừa cảm phục tấm lòng hiếu thảo, nhân hậu của nàng. Kiều bỏ qua hết những nỗi đau mà bản thân mình phải gánh chịu, chấp nhận tất cả để dành tình thương cho cha mẹ và các em, nàng lo cha già không ai chăm sóc:

“Xót người tựa cửa hôm mai,

Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ…”

Ngoài ra, một tình tiết khác trong” Truyện Kiều” thể hiện nét đẹp của tình cảm nhân đạo đó là tình tiết “Trao duyên”. Giữa “‘Hiếu tình khôn lẽ hai đường vẹn hai’, Kiều đã nhờ cậy Thúy Vân trả nghĩa, trả tình cho Kim Trọng:

“Ngày xuân em hãy còn dài,

Xót tình máu mủ thay lời nước non.

Chị dù thịt nát xương mòn,

Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.

Chiếc thoa với bức tờ mây,

Duyên này thì giữ vật này của chung.”

Day dứt khôn nguôi trong từng câu chữ của Truyện Kiều chính là sự day dứt, xót xa cho số phận con người. Sự xót thương sâu sắc cho số kiếp tài khắc nhưng bạc mệnh của này Kiều. Sau khi bán mình, Kiều lưu lạc suốt hơn 15 năm, nếm đủ mọi tủi nhục cay đắng “Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”.

Thậm chí đã nhảy sông Tiền Đường để tự giải thoát cho mình. Những từ ngữ như “làm chi”, “thương thay”, “còn gì”,..đã nói lên tất cả những xót thương, cảm thông, sự khóc thương của Nguyễn Du cho số phận của Kiều.

“Thương thay cũng một kiếp người,

Hại thay mang lấy sắc tài làm chi

Những là oan khổ lưu ly

Chờ cho hết kiếp còn gì là thân!”.

Phân tích giá trị nhân đạo của Truyện Kiều để thấy, ngoài trân trọng vẻ đẹp con người, xót thương số phận khổ đau. Tin thần nhân đao còn thể hiện qua sự đồng cảm, đồng tình của chính tác giả đối với những khát vọng về sự tự do, về công lý của các nhân vật. Từ Hải, Đạm Tiên là những biểu hiện sâu sắc về khía cạnh nhân đạo này.

Từ Hải được xây dựng là nhân vật mang hình tượng sử thi, một vị anh hùng có sức mạnh phi thường, tài năng xuất chúng. Ngoài hình phong độ, đỉnh đạc, đầy khí chất “Râu hùm hàm én mày ngài. Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao”, “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai!”. Người có nhiều chiến công lừng lẫy “Huyện thành đạp đổ năm tòa cõi nam”. Khi thanh kiếm vung lên, công lý và tự do được giành lại.

“Anh hùng tiếng đã gọi rằng

Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha”.

Nhờ có Từ Hải, Kiều đã “báo ân báo oán” thành công. Hình tượng nhân vật từ Hải là biểu hiện của tinh thần nhân đạo sâu sắc, xã thân vì nghĩa. Từ Hải tự như ánh sao, dù chỉ lướt qua nhưng đã đủ để soi sáng cho cuộc đời đầy tăm tối của Kiều, dành lại niềm tin và hy vọng trong Kiều. Cho dù cuối cùng Từ Hải bị Hồ Tôn Hiến hãm hại.

“Rằng: Từ là đấng anh hùng.

Dọc ngang trời rộng vẫy vùng biển khơi”.

Ngoài Thúy Kiều, Từ Hải, Kim Trọng,..Nguyễn Du còn xây dựng song song nhân vật Đạm Tiên, một số phận không kém phần xót xa như Kiều. Đạm Tiên, một kỹ nữ “nổi danh tài sắc một thì” nhưng hồng nhan bạc mệnh “Sống làm vợ khắp người ta. Hại thay thác xuống làm ma không chồng”. Đồng cảm với chính hoàn cảnh của đời mình, Kiều khóc cho Đạm Tiên hay chính Nguyễn Du đang khóc chung cho nỗi đau, số phận bạc bẽo của người phụ nữ thời bấy giờ.

“Đau đớn thay phận đàn hà Lời

rằng bạc mệnh cũng là lời chung”.

Thông qua số phận và tính cách của Thúy Kiều – Nhân vật trung tâm cả tác phẩm. Nguyễn Du đã tạo nên “Đoạn trường tân thanh” một kiệt tác đầy tính nhân văn, nhân đạo. Phân tích giá trị nhân đạo của Truyện Kiều để thấy tinh thần nhân đạo là nội dung xuyên suốt tác phẩm. Nguyễn Du đã khiến chúng ta phải tự hào về một thi sĩ có trái tim giàu lòng yêu thương, có một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, đồng cảm với số phận con người, một tài năng kiệt xuất của thi ca nước nhà.

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong Truyện Kiều 3
4

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong Truyện Kiều 4

Tên tác phẩm: Truyện Kiều

Tác giả: Nguyễn Du (1766-1820)

Vài nét về tác phẩm: Tác phẩm kể lại cuộc đời, những thử thách và đau khổ của Thúy Kiều, một phụ nữ trẻ xinh đẹp và tài năng, phải hy sinh thân mình để cứu gia đình. Để cứu cha và em trai khỏi tù, cô bán mình kết hôn với một người đàn ông trung niên, không biết rằng hắn ta là một kẻ buôn người, và bị ép làm kĩ nữ trong lầu xanh.

Nội dung phân tích: Trân trọng vẻ đẹp của con người. Thương xót cho số phận đau thương của con người. Tố cáo, phê phán những thế lực chà đạp lên con người. Thấu hiểu ước mơ của con người.

Một tác phẩm văn học trường tồn cùng thời gian không chỉ bởi tài hoa của người nghệ sĩ mà còn vì cảm hứng nhân đạo đã làm cho tác phẩm có sức lay động lòng người và được truyền tụng từ đời này sang đời khác. “Truyện Kiều” của Nguyễn Du là một tác phẩm như vậy.

Cảm hứng nhân đạo xuất phát từ tình yêu thương con người với con người. Một tác phẩm mang cảm hứng nhân đạo khi nó ca ngợi phẩm chất cao đẹp của con người, đồng tình với khát vọng chính đáng của họ đồng thời là sự đồng cảm xót thương những số phận kém may mắn, bị chà đạp, cưỡng bức. Tác phẩm mang cảm hứng hứng nhân đạo còn phải là một bản án tố cáo những thế lực thù địch, xã hội bất công giày xéo nhân phẩm con người. Nguyễn Du coi trọng tài sắc của Thúy Kiều

“Một hai nghiêng nước nghiêng thành

Sắc đành đòi một, tài đành họa hai”

Nên khi Kiều bán mình chuộc cha, phải trao duyên cho em, nhờ em thay mình trả nghĩa chàng Kim, Nguyễn Du càng thấu tỏ bi kịch cuộc đời nàng. Mười lăm năm tha hương là mười lăm năm đoạn trường đầy gian truân của Thúy Kiều. Càng thương Kiều, Nguyễn Du càng yêu quý phẩm chất thanh cao, trong sạch của nàng. Ông đau xót cho một con người hồng nhan bạc mệnh:

“Đã cho lấy chữ hồng nhan

Làm cho cho hại cho tàn cho cân

Đã đày vào kiếp phong trần

Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi”

Dường như chính Nguyễn Du đã nhập thân để hiểu tận cùng nỗi đau của Thúy Kiều và bất bình thay cho nàng. Nguyễn Du cũng coi mình như nàng Thúy Kiều, cùng mang những nỗi oan sai nghiệt ngã do xã hội đọa đày, cùng khao khát có một người tri âm tri kỷ để dốc bầu tâm sự:

“Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”

(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa

Người đời ai khóc Tố Như chăng)

(Độc Tiểu Thanh ký)

Trong suốt thiên “Truyện Kiều”, Nguyễn Du luôn đặt câu hỏi tìm đâu là nguyên nhân của những đau khổ tột cùng của con người. Nhưng thực tế, bản thân ông biết, xã hội bất công, ma lực đồng tiền đã đẩy những con người tài sắc như Kiều vào chốn bùn nhơ, cuộc sống bi kịch. Hiểu thấu được nguyên nhân, nhưng chính ông cũng không thể xoay chuyển thế sự. Bởi chính ông cũng đang bị thời thế rối ren, lũng đoạn đày ải.

Nguyễn Du là một đại thi hào của dân tộc Việt Nam. Tấm lòng nhân đạo của ông xuất phát từ chính trái tim của người nghệ sĩ. Tiếng lòng của ông là nỗi lòng chung của nhiều số phận đang bị áp bức trong xã hội đương thời.

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong Truyện Kiều 4
5

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong Truyện Kiều 5

Tên tác phẩm: Truyện Kiều

Tác giả: Nguyễn Du (1766-1820)

Vài nét về tác phẩm: Tác phẩm kể lại cuộc đời, những thử thách và đau khổ của Thúy Kiều, một phụ nữ trẻ xinh đẹp và tài năng, phải hy sinh thân mình để cứu gia đình. Để cứu cha và em trai khỏi tù, cô bán mình kết hôn với một người đàn ông trung niên, không biết rằng hắn ta là một kẻ buôn người, và bị ép làm kĩ nữ trong lầu xanh.

Nội dung phân tích: Trân trọng vẻ đẹp của con người. Thương xót cho số phận đau thương của con người. Tố cáo, phê phán những thế lực chà đạp lên con người. Thấu hiểu ước mơ của con người.

Nếu như cảm hứng nhân bản nghiêng về đồng cảm với những khát vọng rất người của con người, cảm hứng nhân văn thiên về ngợi ca vẻ đẹp của con người thì cảm hứng nhân đạo là cảm hứng bao trùm.

Cốt lõi của cảm hứng nhân đạo là lòng thương. Bản chất của nó là chữ tâm đối với con người. Một tác phẩm mang cảm hứng nhân đạo khi nó ca ngợi phẩm chất cao đẹp của con người, không những thế phải đồng cảm xót thương những số phận bị chà đạp, lên án tố cáo những thế lực thù địch, đồng thời phải biết đồng tình với khát vọng và ước mơ chính đáng của con người. Nguyễn Du yêu thương con người đến tận cùng, vì vậy các tác phẩm của ông cũng nhân đạo đến tận cùng. Chỉ qua ba đoạn trích Truyện Kiều và bài thơ Độc Tiểu Thanh kí, người đọc cũng hiểu được phần nào tấm lòng nhân đạo của thi hào Nguyễn Du.

Cảm thương cho những kiếp hồng nhan mà đa truân, tài tử mà đa cùng không phải là cảm hứng mới mẻ trong văn học, nhưng phải đến Nguyễn Du, người đọc mới thực sự đau lòng vì “những điều trông thấy” bởi Nguyễn Du viết về nỗi đau của người khác như nỗi đau của chính mình. Sắc đẹp khuynh thành và tài năng hiếm có của Thúy Kiều đã được Nguyễn Du đặc tả trong hai câu thơ:

“Một hai nghiêng nước nghiêng thành

Sắc đành đòi một, tài đành họa hai” (Truyện Kiều)

Còn Tiểu Thanh, một con người có thật sống cách Nguyễn Du 300 năm ở Trung Quốc cũng là một người con gái đẹp, có tài thơ, còn để lại tập di cảo Tiểu Thanh ký. Truyện kể lại rằng trước khi chết, Tiểu Thanh đã khóc vì nhìn bức chân dung của mình và nhận ra mình đẹp. Đau đớn biết bao nhiêu khi một người con gái còn rất trẻ khi sắp chết lại thấy mình đẹp. Thế nhưng chính Nguyễn Du lại thấm thía hơn ai hết rằng: “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”, rằng: “Có tài mà cậy chi tài – Chữ tài liền với chữ tai một vần”. Cuộc đời Thúy Kiều và Tiểu Thanh chính là minh chứng và cũng là nạn nhân của những bất công, phi lý của cuộc đời. Thúy Kiều tài sắc như vậy nên người nàng yêu cũng phải là một văn nhân “vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa”. Hai người đã thề nguyền “Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai” và có vầng trăng trên trời làm chứng. Nhưng rồi tai họa ập đến với gia đình khiến Thúy Kiều đành phải hy sinh chữ tình vì chữ hiếu. Việc Kiều bán mình chuộc cha không phải vì nàng hành động theo đạo lý tam cương của Nho gia mà đó là đạo hiếu của kẻ làm con: “Làm con trước phải đền ơn sinh thành”. Nhưng chỉ Nguyễn Du mới hiểu đến tận cùng bi kịch của Thúy Kiều khi phải trao duyên cho em, nhờ em thay mình trả nghĩa chàng Kim. Nàng giờ sống mà như đã chết. Biết bao đau đớn khi Kiều nhận mình là kẻ phụ bạc:

“Ôi Kim Lang, hỡi Kim Lang

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây” (Truyện Kiều)

Màn trao duyên ấy chính là bi kịch đầu tiên mở ra quãng đời 15 năm “oan khổ lưu ly” của Thúy Kiều. Cuộc sống “êm đềm trướng rủ màn che” ngày xưa giờ đã thay bằng cuộc sống “Dập dìu lá gió cành chim – Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Tràng Khanh”. Thúy Kiều không tìm thấy chút vui thú nào trong cuộc sống “bướm lả ong lơi” ấy, mà tâm trạng thực của nàng là vui gượng, là sầu, buồn, cuối cùng đọng lại ở nỗi đau, một nỗi đau luôn dày vò, không thể giải tỏa. Có nhà nghiên cứu đã nhận xét rằng cái “giật mình mình lại thương mình xót xa” của cô Kiều mới đáng quý biết chừng nào. Nếu không có những phút “giật mình” ấy thì nàng Kiều cũng tầm thường như một cô gái làng chơi mất hết nhân phẩm. Cái “giật mình” ấy chứng tỏ Thúy Kiều đã đau đớn biết bao nhiêu khi nhân phẩm bị nhơ bẩn, “Mặt sao dày gió dạn sương – Thân sao bướm chán ong chường bấy thân”. Nàng phẫn uất, đay nghiến thực trạng phũ phàng, cuộc sống bị cầm tù trong một vòng tròn luẩn quẩn không lối thoát:

“Đã cho lấy chữ hồng nhan

Làm cho cho hại, cho tàn cho cân

Đã đày vào kiếp phong trần

Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi”

Người đọc dường như không phân biệt được đâu là lời của nhân vật, đâu là lời của nhà thơ vì Nguyễn Du đã nhập thân để hiểu tận cùng nỗi đau của Thúy Kiều và bất bình thay cho nàng. Thúc Sinh xuất hiện trong cuộc đời Kiều không phải chỉ như một khách làng chơi mà còn như một người tình, một người chồng, một ân nhân. Chính Thúc Sinh đã chuộc nàng ra khỏi xanh và cưới nàng làm vợ lẽ. Nhưng mối duyên này ngắn ngủi. Thúc Sinh phải về quê báo tin “vườn cũ thêm hoa” với vợ cả là Hoạn Thư. Cảnh từ biệt của hai người không chỉ có buồn, có lưu luyến như các cuộc chia ly thông thường khác mà còn có dự cảm về một cuộc chia tay vĩnh viễn:

“Vầng trăng ai xẻ làm đôi

Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường”

Những nỗi đoạn trường cứ bám lấy cuộc đời Thúy Kiều như một định mệnh, không cho nàng được sống thanh thản, vui vẻ, dù là ngắn ngủi. Tiểu Thanh cũng vậy. Nàng tài sắc là thế mà phải làm lẽ, sống trong sự dày vò của người vợ cả độc ác. Tiểu Thanh không giống Thúy Kiều, 16 tuổi đã phải dấn thân vào kiếp đoạn trường, nhưng cảnh sống bị cầm tù ở núi Cô Sơn, ngày ngày lo sợ bị người vợ cả hãm hại thì có khác gì cái chết. Một cái chết dần dần, mòn mỏi, và không kém phần đau đớn. Sau 300 năm chỉ có Nguyễn Du lặng lẽ viếng nàng bên khung cửa qua tập di cảo còn sót lại. Cảnh đẹp Tây Hồ cũng chịu số phận truân chuyên của giai nhân:

“Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang

Thổn thức bên song mảnh giấy tàn” (Độc Tiểu Thanh ký)

Nguyễn Du xót thương cho số phận của “văn chương”, của “son phấn” cũng bị liên lụy vào nỗi đoạn trường bởi chúng mang cái mệnh của con người:

“Chi phấn hữu thần liên tử hận

Văn chương vô mệnh lụy phần dư”

(Son phấn có thần chôn vẫn hận

Văn chương không mệnh đốt còn vương)

(Độc Tiểu Thanh ký)

Vẫn biết rằng “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” nhưng đó vẫn là “nỗi hờn kim cổ” mà Nguyễn Du muốn chất vấn trời cao, hay chất vấn cuộc đời, xong rốt cuộc vẫn không có lời giải đáp. Chỉ biết rằng đó là “phong vận kỳ oan” (nỗi oan lạ lùng) của những kẻ mang nết phong nhã. Hồng nhan đa truân, tài tử đa cùng là cái án tiền định của những người như Thúy Kiều, Tiểu Thanh phải mang. Tiếng khóc của nàng Kiều trước mộ Đạm Tiên cũng chính là tiếng khóc của nàng cho chính mình mai sau và là tiếng khóc cho những phận đàn bà nói chung:

“Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” (Truyện Kiều)

Rốt cuộc thì Đạm Tiên, Thúy Kiều hay Tiểu Thanh dù số phận có nhiều điểm khác nhau thì cũng là “cùng một lứa bên trời lận đận”. Nguyễn Du cũng tự coi mình là người cùng hội cùng thuyền với những người mắc nỗi oan lạ lùng vì vết phong nhã. Tố Như đau cho số phận của Tiểu Thanh cũng là tự thương cho chính những lận đận của mình, bởi vậy mới khao khát tri kỷ:

“Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”

(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa

Người đời ai khóc Tố Như chăng)

(Độc Tiểu Thanh ký)

“Khấp” có nghĩa là khóc thầm, còn “khóc” là khóc lớn, khóc thành tiếng. Nguyễn Du cả đời khóc thương cho những bất hạnh của con người nhưng cuối cùng cũng chỉ mong được người đời sau khóc thầm. Đó là khao khát tri âm khiêm nhường của một con người rất hiểu đời.

Đọc “Truyện Kiều” và “Độc Tiểu Thanh kí”, Nguyễn Du luôn hỏi trời về những đau khổ của con người nhưng thực tế trong tác phẩm, Nguyễn Du lại cho thấy nguyên nhân nhưng đau khổ của con người là do những thế lực thù địch chà đạp lên cuộc sống và quyền sống chính đáng của con người. Nếu không có chế độ phong kiến với sự thống trị của đồng tiền thì Kiều đâu có 15 năm lênh đênh trong bể đoạn trường, nếu không có chế độ đa thê thì Tiểu Thanh chắc cũng không có số phận bi kịch như thế. Nguyễn Du đau nỗi đau của con người, hiểu thấu được nguyên nhân của những bi kịch ấy nhưng Nguyễn Du bất lực bởi chính ông cũng là nạn nhân của những bể dâu cuộc đời. Nỗi đau của Nguyễn Du, sự cô đơn của Nguyễn Du, tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du đều xuất phát từ một trái tim nghệ sĩ lớn.

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong Truyện Kiều 5
6

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong Truyện Kiều 6

Tên tác phẩm: Truyện Kiều

Tác giả: Nguyễn Du (1766-1820)

Vài nét về tác phẩm: Tác phẩm kể lại cuộc đời, những thử thách và đau khổ của Thúy Kiều, một phụ nữ trẻ xinh đẹp và tài năng, phải hy sinh thân mình để cứu gia đình. Để cứu cha và em trai khỏi tù, cô bán mình kết hôn với một người đàn ông trung niên, không biết rằng hắn ta là một kẻ buôn người, và bị ép làm kĩ nữ trong lầu xanh.

Nội dung phân tích: Trân trọng vẻ đẹp của con người. Thương xót cho số phận đau thương của con người. Tố cáo, phê phán những thế lực chà đạp lên con người. Thấu hiểu ước mơ của con người.

Nếu như cảm hứng hiện thực trong Truyện Kiều của Nguyễn Du khiến người đọc nhận ra được xã hội phong kiến suy tàn, thối nát, con người bị chà đạp cả thể xác và tinh thần thì cảm hứng nhân đạo gieo vào lòng người đọc niềm xót thương vô hạn. Cảm hứng nhân đạo của Truyện Kiều là cảm hứng xuyên suốt từng nhân vật, từng câu chữ, ngấm vào tim của tác giả và của người đọc.

Có thể nói chính cảm hứng nhân đạo trong Truyện Kiều đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến những người yêu truyện Kiều và thương cho số phận hồng nhan tài hoa bạc mệnh. Trước hết chúng ta có thể thấy được cảm hứng nhân đạo mà Nguyễn Du gửi gắm qua tác phẩm xuất phát từ hiện thực nhiều cay nghiệt, oan trái trong xã hội phong kiến bấy giờ.

Là một người tràn đầy tình yêu và lòng trắc ẩn đối với những phận người tài hoa nhưng nổi trôi trong xã hội như Thúy Kiều; Nguyễn Du bằng trái tim, bằng nước mắt khắc họa thành công nhân vật Thúy Kiều. Kỳ thực Thúy Kiều không phải được dựng lên bằng ngôn ngữ tài hoa bậc thầy của Nguyễn Du mà được tạo nên từ chính tình cảm yêu thương mãnh liệt của ông. Tinh thần nhân đạo chạy dọc suốt hơn 3000 câu thơ, từ nhân phẩm, tính cách của nhân vật đến những cơ cực mà họ mang đến khát khao vươn tới hạnh phúc. Đó đều là những giá trị đáng trân trọng của một con người. Thúy Kiều vì gia đình sa cơ lỡ bước mà cuộc đời cô phải trải qua 15 năm lưu lạc. Hẳn người đọc còn nhớ đến gia cảnh của Nguyễn Du, ông cũng đã từng trải qua 15 năm lưu lạc ở quê vợ với cuộc sống cùng cực. Có thể nói cảm hứng của truyện Kiều chính là từ cuộc đời của Nguyễn Du. Thấu hiểu được nỗi khổ của cảnh sống trôi nổi Nguyễn Du đã thổi hồn, thổi chữ tâm vào nhân vật Thúy Kiều.

Thúy Kiều đã trải qua bao nhiêu sóng gió, qua tay bao nhiêu kẻ, chịu nhiều nỗi nhục nhã, ê chề nhưng nàng vẫn kiên cường, mạnh mẽ chống chọi tất cả. Hơn hết Thúy Kiều vượt lên số phận, luôn khát khao yêu thương, khát khao hạnh phúc, khát khao được đoàn tụ. Đây đều là những khát vọng bình dị nhưng lại vô cùng lớn lao đối với số kiếp tài hoa bạc mệnh như Thúy Kiều. Nỗi cay đắng, cùng cực mà Thúy Kiều mang nặng suốt 15 năm chính là số mệnh mà cô phải hứng chịu. Người con gái ấy mạnh mẽ bao nhiêu thì càng bị vùi dập bấy nhiêu. Thực sự người đọc rơi nước mắt trước cảnh một người con gái tuyệt sắc giai nhân nhưng bị chà đạp cả thể xác và nhân phẩm.

Thúy Kiều rơi vào cảnh này cũng xuất phát từ tấm lòng hiếu thảo với mẹ cha, nàng lựa chọn chữ “hiếu” thay vì chữ "tình". Bởi hai chữ đó có bao giờ được vẹn nguyên, sự lựa chọn nghiệt ngã, đầy nước mắt ấy chính là con đường gian khổ mà Thúy Kiều phải chịu dày vò. Qua việc xây dựng hình tượng Thúy Kiều đẹp đẽ, đầy sức sống, đầy khát khao và tình yêu Nguyễn Du đã gửi gắm đến người đọc thông điệp về khát vọng sống, khát vọng vươn tới hạnh phúc. Khi tình yêu lớn hơn sự khắc nghiệt của hiện tại thì nó sẽ chiến thắng.

Người đọc không khỏi xúc động, nghẹn ngào thương cho cuộc đời của Thúy Kiều, thương cho những người con gái bạc mệnh trong xã hội phong kiến. Qua đó bộc lộ thái độ căm phẫn đến tột độ xã hội thối nát đẩy con người đến bước đường cùng.

Như vậy “Truyện Kiều” của Nguyễn Du thực sự là một tác phẩm mang nặng cảm hứng nhân đạo và tình yêu thương con người sâu sắc. Đây là điều mà Nguyễn Du muốn hướng tới, muốn gửi gắm đến mọi người.

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong Truyện Kiều 6
7

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong Truyện Kiều 7

Tên tác phẩm: Truyện Kiều

Tác giả: Nguyễn Du (1766-1820)

Vài nét về tác phẩm: Tác phẩm kể lại cuộc đời, những thử thách và đau khổ của Thúy Kiều, một phụ nữ trẻ xinh đẹp và tài năng, phải hy sinh thân mình để cứu gia đình. Để cứu cha và em trai khỏi tù, cô bán mình kết hôn với một người đàn ông trung niên, không biết rằng hắn ta là một kẻ buôn người, và bị ép làm kĩ nữ trong lầu xanh.

Nội dung phân tích: Trân trọng vẻ đẹp của con người. Thương xót cho số phận đau thương của con người. Tố cáo, phê phán những thế lực chà đạp lên con người. Thấu hiểu ước mơ của con người.

Không phải đến Nguyễn Du, tỉnh thần nhân đạo mới được phổ vào văn chương nghệ thuật nhưng có thể khẳng định từ khi phôi thai nên văn học tiếng Việt, tỉnh thần nhân bản được kết tỉnh đậm nét nhất ở tác giả này. Và Truyện Kiều là một trong những sáng tác tiêu biểu mang nặng giá trị nhân đạo hơn cả.

Nhân đạo là tình cảm yêu thương giữa con người với con người. Lòng nhân đạo được biểu hiện trên nhiều khía cạnh mà trước hết nó là thái độ tố cáo, vạch trần tội ác của những thế lực chà đạp lên quyền sống của con người; biểu dương, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của con người; thông cảm, thấu hiểu những tâm tư, tình cảm cũng như những nguyện vọng của con người, giúp ho đấu tranh để những ước nguyện đó thành hiện thực. Cả ba biểu hiện này đều có trong giá trị nhân đạo Truyện Kiều. Trong Đoạn trường tân thanh, Nguyễn Du có hẳn một tuyến nhân vật lí tưởng mà ông yêu thích. Viết về những con người này, cảm hứng của thi nhân bao giờ cũng là cảm hứng ngợi ca. Nguyễn Du ngợi ca vẻ đẹp ngoại hình của Thuý Kiều, Thuý Vân, của Kim Trọng, Từ Hải… bằng những lời thơ đẹp vô cùng. Họ đẹp từ nhan sắc:

Làn thu thuỷ, nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.

Và tài năng thì khó ai sánh kịp:

Thông minh vốn sẵn tính trời

Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm.

nết đất thông minh tính trời.

Phong tư tài mạo tót vời,

Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa.

Tả Từ Hải: 

Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.

Đường đường một đống anh hào,

Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài.

Không chỉ khẳng định vẻ đẹp hình thức của con người, Nguyễn Du còn rất đề cao phẩm chất, nhân cách của các nhân vật lí tưởng. Nhân vật trung tâm trong Truyện Kiều (Thuý Kiều) có một lòng hiếu nghĩa sâu nặng với cha mẹ và thuỷ chung son sắt với người yêu. Để đáp đền công ơn cha mẹ, khi gia đình gặp biến, cha bị bắt, Kiều đã quyết định bán mình chuộc cha với một suy nghĩ dứt khoát:

Làm con trước phải đền ơn sinh thành

Để rồi, khi phải dứt bỏ mối tình với chàng Kim, nàng vô cùng đau xót:

“Bây giờ trâm gãy gương tan,

Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!”

Tấm lòng trinh bạch đó qua mười lăm năm lưu lạc tuy bị vùi dập đau đớn nhưng vẫn luôn được nàng gìn giữ.

Không dừng lại ở việc ngợi ca những vẻ đẹp thuộc về con người Nguyễn Du còn luôn đứng về phía những con người nhỏ bé. Trên lập trường nhân bản, nhà thơ lên án, tố cáo tất cả những thế lực chà đạp lên quyền sống con người. Từ kẻ “vô danh tiểu tốt” như thằng bán tơ đến lũ vô loài như Sở Khanh, Tú Bà, Mã Giám Sinh, Bạc Bà, Bạc Hạnh đến những kẻ “ăn trên ngồi chốc”, thuộc hàng “phương diện quốc gia” như Hoạn Thư, Hồ Tôn Hiến… tất cả đều bị Nguyễn Du vạch trần bộ mặt xấu xa, tàn ác, đê tiện, bỉ ổi. Chúng tổn tại trong câu chuyện của thi nhân như những thế lực hắc ám phản động, lúc nào cũng gieo rắc những hành động thiếu nhân tính xuống số phận những con người nhỏ bé, bất hạnh. Vì chúng mà gia đình Thúy Kiều đang yên ấm phải thất tán. Vì chúng mà người con gái xinh đẹp, tài hoa như Thuý Kiều bị vùi dập một cách không thương tiếc. Mười lăm năm lưu lạc chính là mười lăm năm Kiều phải nếm trải, chịu đựng mọi nỗi oan khuất kinh khủng nhất. Phát hiện vĩ đại nhất và cũng đau đớn nhất của Nguyễn Du về thân phận con người trong xã hội phong kiến. Con người bị coi như một món hàng, có lúc bị mang ra mặc cả, cân đo:

Cò kè bớt một thêm hai,

Giờ lâu ngã giá, vàng ngoài bốn trăm

Con người hai lần bị bán chác vào chốn nhơ bẩn nhất trần gian:

Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần

Con người bị đòn roi vùi dập:

Uốn lưng thịt đổ, dập đầu máu sơ

Con người bị đòn ghen oan khuất, con người bị lợi dụng, biến thành kẻ phản bội. Chà đạp lên con người là cơ man nào những thế lực phi nhân tính Chúng châu tuần, hợp sức để bóp nghẹt sự sống con người. Có lẽ trong lịch sử nỗi đau thương, chưa người phụ nữ nào phải chịu nỗi đau dằng dặc, chồng chất, đáng sợ như Thuý Kiều của Nguyễn Du. Tố cáo các thế lực huỷ hoại con người cũng có nghĩa Nguyễn Du đã thấu hiểu nỗi đau khổ mà con người, nhất là phụ nữ phải chịu đựng. Hơn một lần trong các sáng tác mình, nhà thơ khóc:

Đau đớn thay phận đàn bà!

Và khi viết về Thuý Kiều – người đàn bà mang số phận oan nghiệt nhất trong xã hội phong kiến, ngòi bút thi nhân luôn lặn sâu vào tâm trạng nhân vật, phát hiện ra những nỗi đau đớn và miêu tả một cách cảm động Có thể coi Trao duyên là một trong những đoạn trích hay nhất, thể hiện sâu sắc lòng thương cảm của nhà thơ. Trao kỉ vật cho Thuý Vân mà Kiều như còn nuối tiếc khôn nguôi và dường như muốn níu kéo:

“Duyên này thì giữ vật này của chung”.

Hai chữ của chung mà tác giả lựa chọn đủ để thể hiện nét tâm trạng đó. Dường như giữa Thúy Kiều và Nguyễn Du có một sự đồng cảm kì lạ. Đó là lí do mọi nỗi đoạn trường của Kiều đều được Nguyễn thấu hiểu và diễn tả bằng một xúc cảm yêu thương đến lạ. Để Từ Hải bước vào đời Kiều, Nguyễn Du không nhằm mục đích xây dựng cho nàng một tình yêu mới. Quan trọng hơn, ông muốn người anh hùng này sẽ giải thoát nàng khỏi kiếp đoạn trường, sẽ trả lại cho nàng lẽ công bằng mà nàng đã bị lũ người tráo trở, bạc ác, tỉnh ma tước mất. Và hơn hết, từ các nhân vật Thuý Kiều, Từ Hải, Nguyễn Du còn có thể nói lên khát vọng của con người thời đại mình: Khát vọng tình yêu và khát vọng công lí. Chưa khi nào trong văn học trung đại có người con gái dám xé rào đêm, xờm xăm băng lối vườn khuya một mình như Kiều. Chưa khi nào trong văn học trung đại có người anh hùng dám dang tay cứu mĩ nhân và giúp nàng đòi lại công bằng như Từ Hải. Ở thời đại Nguyễn Du, khát vọng của ông là khát vọng không tưởng. Nhưng rõ ràng, tư tưởng của nhà thơ cho thấy cái nhìn tiến bộ vượt tầm thời đại và thấm đượm tinh thần nhân bản. Nói Nguyễn Du có con mắt trông thấu sáu cõi và tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời là bởi vậy.

Cùng với những giá trị nghệ thuật, giá trị nhân đạo là một trong những phương diện làm nên thành công của Truyện Kiều. Nhưng hơn hết, giá trị nhân đạo đó là bằng chứng về một tấm lòng, một nhân cách cao cả của thời đại, của dân tộc.

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong Truyện Kiều 7
8

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong Truyện Kiều 8

Tên tác phẩm: Truyện Kiều

Tác giả: Nguyễn Du (1766-1820)

Vài nét về tác phẩm: Tác phẩm kể lại cuộc đời, những thử thách và đau khổ của Thúy Kiều, một phụ nữ trẻ xinh đẹp và tài năng, phải hy sinh thân mình để cứu gia đình. Để cứu cha và em trai khỏi tù, cô bán mình kết hôn với một người đàn ông trung niên, không biết rằng hắn ta là một kẻ buôn người, và bị ép làm kĩ nữ trong lầu xanh.

Nội dung phân tích: Trân trọng vẻ đẹp của con người. Thương xót cho số phận đau thương của con người. Tố cáo, phê phán những thế lực chà đạp lên con người. Thấu hiểu ước mơ của con người.

Tinh thần nhân đạo cao cả là nội dung tư tưởng đặc sắc tạo nên vẻ đẹp nhân văn của áng thơ này. Chúng ta vô cùng tự hào về Nguyễn Du, một tâm hồn nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên, một trái tim giàu yêu thương, đồng cảm với tâm tư và số phận của con người, một tài năng lớn về thi ca đã làm rạng rỡ nền văn học cổ Việt. Tinh thần nhân đạo của Nguyễn Du thấm nhuần trong trang thơ Truyện Kiều.

Chủ nghĩa nhân đạo là tư tưởng yêu thương con người, tôn trọng các giá trị của con người. Biểu hiện của chủ nghĩa nhân đạo trong Truyện Kiều được thể hiện qua sự trân trọng vẻ đẹp của con người, thương xót cho số phận đau thương của con người, tố cáo, phê phán những thế lực chà đạp lên con người và thấu hiểu ước mơ của con người. Nguyễn Du rất trân trọng vẻ đẹp con người. Nguyễn Du đã dành nhiều ưu ái khi xây dựng chân dung nhân vật. Với Thúy Vân, Nguyễn Du miêu tả tỉ mỉ, chi tiết để dựng nên bức chân dung vừa đáng yêu, thiện cảm, vừa trang trọng, quý phái:

“Vân xem trang trọng khác vời

Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang

Hoa cười ngọc thốt đoan trang

Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”

Với Thúy Kiều, Nguyễn Du sử dụng bút pháp “tả mây tô trăng”, “điểm nhãn” để dựng nên bức chân dung sắc sảo, hoàn mỹ, không ngôn từ nào diễn tả hết:

“Kiều càng sắc sảo mặn mà

So về tài sắc lại là phần hơn

Làn thu thủy, nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”

Nguyễn Du sử dụng thủ pháp ước lệ để xây dựng chân dung nhân vật, nhưng đối với Nguyễn Du, vẻ đẹp của con người không chỉ sánh ngang với thiên nhiên, mà thậm chí vượt qua thiên nhiên, khiến thiên nhiên phải “thua, nhường”, “ghen, hờn” trước sắc đẹp con người. Cả Thúy Kiều và Thúy Vân đều có đức hạnh đoan trang, đúng mực:

“Phong lưu rất mực hồng quần

Xuân xanh xấp xỉ đến tuần cập kê

Êm đềm trướng rủ màn che

Tường đông ong bướm đi về mặc ai”.

Ở Thúy Kiều sáng lên vẻ đẹp của đạo hiếu:

“Xót người tựa cửa hôm mai

Quạt nồng ấp lạnh biết ai đó giờ?

Sân Lai cách mấy nắng mưa

Có khi gốc tử đã vừa người ôm”.

Và đức tính thủy chung:

“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

Tin sương luống những rày trông mai chờ

Chân trời góc bể bơ vơ

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”

Thúy Kiều còn có tấm lòng trọng ân nghĩa:

“Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng

Tại ai há dám phụ lòng cố nhân”

Và một tấm lòng bao dung, độ lượng:

“Tha ra thì cũng may đời

Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen

Đã lòng tri quá thì nên”

Tiến bộ hơn các nhà thơ thời Trung Đại, Nguyễn Du còn đề cao người phụ nữ ở phương diện tài năng, ông đã xây dựng một nhân vật Thúy Kiều đa tài, mà tài nào cũng xuất sắc, tuyệt đỉnh:

“Thông minh vốn sẵn tính trời

Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm

Cung thương làu bậc ngũ âm

Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương

Khúc nhà tay lựa nên chương

Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân”

Thương xót cho số phận đau thương của con người. Đau xót cho thân phận con người bị chà đạp, khinh rẻ, bị biến thành một món hàng để cân đo đong đếm:

“Nỗi mình thêm tức nỗi nhà

Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng

Ngại ngùng dợn gió e sương

Ngừng hoa bóng thẹn trông gương mặt dày.”

Nguyễn Du nhập thân vào nhân vật để cảm nhận hết nỗi đau của nhân vật, tác phẩm viết ra như có “máu chảy trên đầu ngọn bút”, thương cảm cho tương lai bất định, nhiều bất an của Kiều nơi lầu Ngưng Bích:

“Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

Buồn trông ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác biết là về đâu

Buồn trông nội cỏ rầu rầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

Nguyễn Du đã sử dụng ngòi bút hiện thực để vạch trần bản chất xấu xa của những kẻ bất nhân trong xã hội xưa, những kẻ “buôn thịt bán người”, kiếm sống trên thân xác của những cô gái vô tội, tiêu biểu là Mã Giám Sinh. Nguyễn Du đã bóc trần cái mác “giám sinh” của họ Mã để cho thấy tính cách vô học, thô thiển của hắn - một kẻ không biết "thương hoa tiếc ngọc":

“Gần miền có một mụ nào

Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh Hỏi tên, rằng:

Mã Giám Sinh Hỏi quê, rằng:

Huyện Lâm Thanh cũng gần

Quá niên trạc ngoại tứ tuần

Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao

Trước thầy sau tớ lao xao

Nhà băng đưa lối rước vào lầu trang

Ghế trên ngồi tót sỗ sàng”

Đồng thời ông cũng phẫn nộ trước bản chất con buôn của họ Mã:

“Đắn đo cân sắc cân tài

Ép cung cầm nguyệt thử tài quạt thơ

Mặn nồng một vẻ một ưa,

Bằng lòng khách mới tùy cơ dặt dìu.

Rằng: Mua ngọc đến Lam Kiều

Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường?”

“Cò kè bớt một thêm hai”

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã thể hiện một ước mơ cao cả, đó cũng chính là tinh thần nhân đạo của tác phẩm, ước mơ một cuộc sống công bằng, cái thiện được khuyến khích, nâng niu, cái ác phải bị trừng phạt, phải trả giá. Chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du là một chủ nghĩa nhân đạo thấm đẫm yêu thương, tình người, lòng tự tôn.

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong Truyện Kiều 8
9

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong Truyện Kiều 9

Tên tác phẩm: Truyện Kiều

Tác giả: Nguyễn Du (1766-1820)

Vài nét về tác phẩm: Tác phẩm kể lại cuộc đời, những thử thách và đau khổ của Thúy Kiều, một phụ nữ trẻ xinh đẹp và tài năng, phải hy sinh thân mình để cứu gia đình. Để cứu cha và em trai khỏi tù, cô bán mình kết hôn với một người đàn ông trung niên, không biết rằng hắn ta là một kẻ buôn người, và bị ép làm kĩ nữ trong lầu xanh.

Nội dung phân tích: Trân trọng vẻ đẹp của con người. Thương xót cho số phận đau thương của con người. Tố cáo, phê phán những thế lực chà đạp lên con người. Thấu hiểu ước mơ của con người.

"Truyện Kiều" của Nguyễn Du không còn là tác phẩm xa lạ đối với mỗi chúng ta.Tác phẩm được Nguyễn Du viết bằng chữ Nôm với 3254 câu thơ lục bát dựa trên cốt truyện "Kim Vân Kiều truyện" của Thanh Tâm Tài Nhân - tác giả nổi tiếng của văn học Trung Quốc."Truyện Kiều" không chỉ mang ý nghĩa tố cáo hiện thực xã hội bất công, bạo tàn mà còn nổi bật bởi giá trị nhân đạo sâu sắc được thể hiện thông qua nhân vật Thúy Kiều.Đây là nhân vật chính của "Truyện Kiều" và cũng là nhân vật để lại nhiều ấn tượng trong lòng bạn đọc.

Giá trị nhân đạo là những tình cảm chân thành xuất phát từ trái tim người nghệ sĩ đối với nhân vật của mình nói riêng và những tình cảm đối với con người nói chung. Đó là những sự đồng cảm, niềm cảm thương dành cho những số phận bất hạnh.Bên cạnh đó, tác giả cũng thể hiện sự trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn, niềm tin vào công lí xã hội và khát vọng về sự tự do trong tình yêu của con người.Những điều ấy đều được Nguyễn Du thể hiện qua nhân vật Thúy Kiều - một hồng nhan bạc phận để lại biết bao nỗi xót thương nơi độc giả. Nguyễn Du đã ca ngợi vẻ đẹp của nàng bằng những câu thơ ước lệ đầy ấn tượng:

"Làn thu thủy nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

Một hai nghiêng nước nghiêng thành

Sắc đành đòi một, tài đành họa hai".

Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn, là một người có cái nhìn tinh tế nên Nguyễn Du không thể bỏ qua chi tiết ấy.Đôi mắt của Thúy Kiều mang vẻ đẹp trong sáng của làn nước mùa thu, đôi lông mày thanh thoát như nét núi mùa xuân. Vẻ đẹp hình thể ấy khiến thiên nhiên như hoa, liễu cũng nảy sinh lòng đố kị. Phải chăng chi tiết ấy đã dự báo cho cuộc đời về sau của Thúy Kiều sẽ không được êm đềm trong "trướng rủ màn che" nữa mà sẽ gặp nhiều trắc trở, sóng gió? Các động từ "ghen" và "hờn" đã bộc lộ sự ghen ghét của thiên nhiên đối với vẻ đẹp "mười phân vẹn mười" của Thúy Kiều. Vẻ đẹp "nghiêng nước nghiêng thành"không ai sánh nổi đó trong nhân gian chỉ có duy nhất nàng Kiều còn về tài năng thì may mắn có người thứ hai. Kiều là một người vẹn toàn cả về nhan sắc và trí tuệ:

"Thông minh vốn sẵn tính trời

Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm

Cung thương làu bậc ngũ âm

Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương".

Trời phú cho nàng sự thông minh, tài giỏi nên nàng am hiểu và có tài năng cả về bốn lĩnh vực: cầm, kì, thi, họa nhưng nàng giỏi nhất là đàn. Kiều thuộc lòng năm nốt: cung, thương, dốc, chủy, vũ trong âm giai của nhạc cổ. Tài đàn của nàng vượt xa, "ăn đứt" mọi người. Không những thế, nàng còn sáng tác "thiên Bạc mệnh" mang âm hưởng đau khổ, sầu não. Vẻ đẹp của Thúy Kiều trở nên toàn diện hơn bởi sự hiếu thảo với cha mẹ và lòng chung thủy với người yêu:

"Duyên hội ngộ, đức cù lao

Chữ tình chữ hiếu bên nào nặng hơn?

Để lời thệ hải minh sơn

Làm con trước phải đền ơn sinh thành".

Kiều đau đớn nhường nào khi phải lựa chọn giữa chữ hiếu và chữ tình.Nàng đã chấp nhận hi sinh tình yêu với Kim Trọng để bán mình chuộc cha và em.Ngay cả khi ở lầu Ngưng Bích, nỗi nhớ cha mẹ lại càng da diết và khôn nguôi. Nàng thương cha mẹ đã về già mà nàng thì không thể ở bên cạnh chăm sóc:

"Xót người tựa cửa hôm mai

Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ".

Giá trị nhân đạo của "Truyện Kiều" còn được thể hiện trong tình yêu của Thúy Kiều với Kim Trọng. Đó cũng là quan niệm về một tình yêu tự do của đại thi hào Nguyễn Du. Mới gặp nhau lần đầu tiên trong tiết thanh minh nhưng cả "người quốc sắc" và "kẻ thiên tài" đều "tình trong như đã mặt ngoài còn e". Để rồi từ đó, Kim Trọng thuê trọ gần nhà Thúy Kiều để được trông thấy nàng còn Thúy Kiều thì "xăm xăm băng lối vườn khuya một mình" sang nhà Kim Trọng để thề nguyền "trăm năm tạc một chữ đồng đến xương". Tình yêu của họ là tình yêu tự do, chủ động, xuất phát từ sự tự nguyện của hai phía. Nó đã phá tan đi những lễ giáo phong kiến trói buộc người phụ nữ vào những quy tắc, luật lệ hà khắc. Họ hoàn toàn bị động và không có quyền chủ động trong tình yêu.Lòng thủy chung với chàng Kim đã khiến Thúy Kiều vô cùng đau đớn khi trao duyên lại cho Thúy Vân và mong em sẽ thay mình thực hiện lời thề nguyền với Kim Trọng.

Cuộc đời nàng là một chuỗi các bi kịch tiếp nối nhau.Tình yêu say đắm với Kim Trọng chưa được bao lâu thì "giữa đường đứt gánh tương tư" bởi biến cố bất ngờ mà gia đình Thúy Kiều gặp phải. Tình yêu tan vỡ, hai người phải chịu cảnh chia li, xa cách trong một thời gian dài và khi gặp lại nhau tuy tình cảm dành cho nhau vẫn còn nhưng hai người lại chọn cách ứng xử "duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy". Song song với bi kịch tình yêu là bi kịch bị chà đạp lên nhân phẩm. Để có tiền chuộc cha và em, Kiều đã bán mình cho Mã giám Sinh để làm vợ nhưng kẻ lọc lừa, xảo trá ấy đã bán Kiều vào lầu xanh khiến nàng phải "thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần".

Nàng gặp phải những kẻ buôn thịt bán người đầy mưu mô như Tú Bà, Bạc Bà, Bạc Hạnh, Mã Giám Sinh, Sở Khanh,...Thúy Kiều phải sống cuộc sống ô nhục ở chốn lầu xanh nhơ nhớp. Đó là bức tranh hiện thực mà tác giả muốn tố cáo. Nguyễn Du đã lên án xã hội vì đồng tiền mà nhân phẩm con người bị chà đạp, sức mạnh của đồng tiền có thể đổi trắng thay đen, khiến những con người vô tội phải chịu nỗi oan uổng. Bàn về giá trị nhân đạo của "Truyện Kiều", Mộng Liên Đường đã đưa ra nhận định xác đáng: "Lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm trên tờ giấy khiến ai đọc cũng thấm thía ngậm ngùi". Quả đúng là như vậy, Nguyễn Du viết về thân phận người phụ nữ bằng bao nhiêu sự xót xa, đồng cảm:

"Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung"

Ông đau đớn cho số phận của Thúy Kiều phải chịu sự vùi dập. Ông cũng trân trọng khát vọng về một tình yêu tự do, khát vọng sống và khát vọng hạnh phúc của nàng. "Nếu không phải con mắt trông thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì không tài nào có được bút lực ấy" (Mộng Liên Đường).Nếu không phải một nhà thơ có tình yêu thương đối với những con người bất hạnh thì có lẽ Nguyễn Du đã không viết nên được tác phẩm "Truyện Kiều" nổi tiếng không chỉ trong nước mà còn được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài.

Thúy Kiều là nhân vật Nguyễn Du gửi gắm những tư tưởng nhân đạo của mình.Đồng thời, nàng cũng là nhân vật thể hiện giá trị nhân đạo của toàn bộ thiên kiệt tác. "Truyện Kiều" đã đánh thức trái tim của mỗi chúng ta, khiến chúng ta rơi lệ bởi sự thương xót cho nhân vật Thúy Kiều. "Truyện Kiều" là di sản vĩ đại, là linh hồn của dân tộc Việt Nam. "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn" (Phạm Quỳnh).

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong Truyện Kiều 9
10

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong Truyện Kiều 10

Tên tác phẩm: Truyện Kiều

Tác giả: Nguyễn Du (1766-1820)

Vài nét về tác phẩm: Tác phẩm kể lại cuộc đời, những thử thách và đau khổ của Thúy Kiều, một phụ nữ trẻ xinh đẹp và tài năng, phải hy sinh thân mình để cứu gia đình. Để cứu cha và em trai khỏi tù, cô bán mình kết hôn với một người đàn ông trung niên, không biết rằng hắn ta là một kẻ buôn người, và bị ép làm kĩ nữ trong lầu xanh.

Nội dung phân tích: Trân trọng vẻ đẹp của con người. Thương xót cho số phận đau thương của con người. Tố cáo, phê phán những thế lực chà đạp lên con người. Thấu hiểu ước mơ của con người.

Có thể nói rằng văn chương chỉ có sức lay động lòng người và có sức sống bất diệt khi tác phẩm văn chương đó có được tính nhân đạo sâu sắc. Và được biết đến là một kiệt tác của văn học không chỉ nói về nghệ thuật ngôn từ mà tác phẩm đó còn phải mang một cảm hứng nhân đạo thật sâu sắc thì mới có thể có sức sống lâu bền được. Và kiệt tác “Truyện Kiều” được đánh giá là một tác phẩm văn học có sức sống lâu bền cho nên nó phải mang được cảm hứng nhân đạo sâu sắc.

Từ xưa cho đến nay thì chính cảm hứng nhân đạo xuất phát từ tình yêu thương con người với con người. Ta như có thể thấy được rằng một tác phẩm mang cảm hứng nhân đạo khi nó ca ngợi những phẩm chất cao đẹp của con người. Hơn nữa đó là sự đồng tình với khát vọng chính đáng của họ đồng thời là sự đồng cảm xót thương cho biết bao nhiêu số phận kém may mắn mà họ cũng đã bị chà đạp, cưỡng bức. Tác phẩm dường như cũng đã mang cảm hứng hứng nhân đạo còn phải là một bản án tố cáo những thế lực thù địch, xã hội bất công giày xéo nhân phẩm con người. Quả thật nhà văn Nguyễn Du coi trọng tài sắc của Thúy Kiều hơn hết đó chính là những câu đó chính là:

“Một hai nghiêng nước nghiêng thành

Sắc đành đòi một, tài đành họa hai”

Cũng chính vì thế nên khi Kiều bán mình chuộc cha, phải trao duyên cho em, nhờ em thay mình trả nghĩa chàng Kim. Lúc này nhà thơ Nguyễn Du càng thấu tỏ bi kịch cuộc đời nàng. Có thể thấy được trong mười lăm năm tha hương là mười lăm năm đoạn trường đầy gian truân của Thúy Kiều. Nếu như ông càng thương Kiều, Nguyễn Du dường như cũng lại càng cảm thấy như yêu quý phẩm chất thanh cao, trong sạch của nàng. Ông cũng đã đau xót đến tận cùng cho một con người hồng nhan bạc mệnh:

“Đã cho lấy chữ hồng nhan

Làm cho cho hại cho tàn cho cân

Đã đày vào kiếp phong trần

Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi”

Dường như ta cũng đã thấy được cũng chính Nguyễn Du đã nhập thân để hiểu tận cùng nỗi đau của Thúy Kiều và đại thi hào Nguyễn Du cũng đã thật bất bình thay cho nàng. Nguyễn Du quả thực cũng đã coi mình như nàng Thúy Kiều, đó chính là việc như đã cùng mang những nỗi oan sai nghiệt ngã do xã hội đọa đày, cùng khao khát có thể có được một người tri âm tri kỉ để dốc bầu tâm sự:

“Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”

(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa

Người đời ai khóc Tố Như chăng)

(Độc Tiểu Thanh ký)

Người đọc cũng có thể thấy được trong suốt thiên “Truyện Kiều”, Nguyễn Du dường như luôn luôn đặt câu hỏi tìm đâu là nguyên nhân của những đau khổ tột cùng của con người. Nhưng thực tế đã cho thấy được bản thân ông biết, xã hội bất công và xã hội đó có cả những sự ma lực đồng tiền đã đẩy những con người tài sắc như nàng Kiều đã phải vào chốn bùn nhơ, cuộc sống bi kịch.

Ông cũng như đã hiểu thấu được nguyên nhân, nhưng chính ông dường như cũng đã không thể xoay chuyển thế sự. Bởi chính ông, chính Nguyễn Du- người có tấm lòng nhân đạo cũng đang bị thời thế rối ren, lũng đoạn đày ải.

Nguyễn Du được xem chính là một đại thi hào của dân tộc Việt Nam. Tấm lòng nhân đạo của ông dường như cũng đã xuất phát từ chính trái tim của người nghệ sĩ. Hơn nữa người đọc còn cảm thấy được đó chính là tiếng lòng của ông là nỗi lòng chung của nhiều số phận đang bị áp bức trong xã hội đương thời lúc bấy giờ.

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong Truyện Kiều 10

Trên đây là tổng hợp 10 bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du hay nhất mà chúng tôi sưu tầm hay nhất, độc đáo nhất. Chúng tôi tin rằng với những tài liệu tham khảo hữu ích này, bạn sẽ làm tốt chủ đề này và dành được những lời khen ngợi có cánh từ giáo viên. 

Đánh giá:

Bình luận

Vui lòng đăng nhập để bình luận.

Hãy để lại bình luận của bạn tại đây!

Báo lỗi

Nội dung báo lỗi là bắt buộc!

Thông báo