Top 10 bài văn phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

5.0 (1 bình chọn)
65

Với số lượng tác phẩm không nhiều nhưng Thạch Lam lại ghi dấu ấn vô cùng đặc biệt trong nền văn học Việt Nam. Sáng tác của ông tập trung khai thác cuộc sống đời thường chân thực, bình dị để lại trong lòng những người yêu văn học những dư âm về vẻ đẹp của cuộc sống và tâm hồn con người. Và Hai đứa trẻ là một trong số đó. Tác phẩm là bức tranh về cuộc sống cơ cực, bế tắc của những con người nơi phố huyện nhỏ trước cách mạng, mơ ước có một cuộc sống mới tốt đẹp hơn.

Hãy cùng Topz xem ngay top 10 bài văn phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam hay nhất để hiểu rõ hơn sự đồng cảm của tác giả dành cho những con người khổ hạnh nơi phố huyện nghèo nhé!

1

Bài mẫu phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ 1

Tên tác phẩm: Hai đứa trẻ

Tác giả: Thạch Lam (1910 -1942) là một nhà văn lớn của khuynh hướng văn học lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930-1945

Vài nét về tác phẩm: “Hai đứa trẻ” được rút trong tập truyện ngắn “Nắng trong vườn” (1938). Nhân vật chính của tác phẩm là hai chị em Liên và An.

Nội dung phân tích:

  • Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” là tiếng nói xót thương đối với những kiếp người nghèo đói cơ cực, sống quẩn quanh bế tắc, không ánh sáng, không tương lai, cuộc sống như cát bụi ở phố huyện nghèo trước cách mạng tháng Tám.
  • Qua những cuộc đời đó Thạch Lam làm sống dậy những số phận của một thời, họ không hẳn là những kiếp người bị áp bức bóc lột, nhưng từ cuộc đời họ Thạch Lam gợi cho người đọc sự thương cảm, sự trân trọng ước mong vươn tới cuộc sống tốt đẹp hơn của họ. Vì vậy tác phẩm vừa có giá trị hiện thực vừa có giá trị nhân đạo sâu sắc.

Đối với Thạch Lam, câu chuyện về những con người ở phố huyện nghèo khắc khoải đợi chuyến tàu đém được ông dặt tên Hai đứa trẻ vì nhiều lý do. Đọc truyện, độc giá có thể nhận thấy An và Liên – hai đứa trẻ – chính là hai nhân vật trung tâm của tác phẩm. An và hên xuất hiện xuyên suốt câu chuyện, từ lúc chập choạng tối đến tận đêm khuya, khi chuyến tài đã qua và một ngày thực sự kết thúc.

Hai đứa trẻ đều được Thạch Lam phát triển ra từ tâm trạng, suy nghĩ cua An và Liên. Đặc biệt là Liên – cô bé đảm đang và nhân hậu. Nhân vật Liên dã dể lại một dấu ấn khó phai trong lòng người đọc mỗi khi gấp trang sách lại, bới tất cà mọi cảnh về thiên nhiên, con người nơi phố huyện và cả chuyến tàu đêm đều được nhìn qua đôi mắt trẻ thơ của hên. hên lắng nghe tiếng trống thu không, ngửi thấy mùi ẩm của đất và rác bẩn – cái mùi đặc trưng của phố huyện. hên thấy những đứa trẻ nghèo lom khom nhặt nhạnh ở phố chợ, thấy mẹ con chị Tí lễ mễ dọn hàng, thấy đốm lửa nhỏởgánh phở bác Siêu, thấy vợ chồng bác xẩm cùng thằng con nghèo đói, và thấy cả bà cụ Thi với tiếng cười vô cảm, rợn người của một người điên. hên thấy nhiều lắm, tất cả mọi cánh phố huyện đều được cô bé thu vào trong tẩm mắt.

Và với trái tim đa cảm cùng lối suy nghĩ già dặn trước tuổi, hên đã có những cảm nhận tinh tế vềcuộc đời nhập trong bóng tối, mờ nhạt và bằng lăng trong cái phố huyện nghèo. Nỗi buồn của hên, của An cũng là nỗi buồn chung của chị Tí, bà cụ Thi, bác phở Siêu, bác xẩm… Đó là sự tuyệt vọng chán chường với cuộc sống quẩn quanh bế tắc.

Liên vốn là cô bé đã từng có một quá khứ đẹp đẽở Hà Nội rực rỡ ánh sáng và tràn ngập niềm vui, do vậy để cho hên cảm nhận cảnh buồn tẻ ở phố huyện, Thạch Lam càng khắc sâu thêm sự xót xa, thất vọng của con người. Cái tên Hai đứa trẻ càng làm nổi bật giá trị nhân đạo của tác phẩm. Thạch Lam đã khắc vào lòng người đọc nỗi đau xót khi chứng kiến hai đứa trẻ còn bé nhỏ, thơ ngây mà đã sớm phải lo toan, bon chen kiếm sống, sớm phải gánh lấy nỗi u uẩn, tù túng, thất vọng chán chường trong cái ao đời phẳng lặng. Nhà văn như đặt ra một câu hỏi không lời giải đáp: rồi đây số phận những đứa trẻ ấy sẽ ra sao? Cả một thế hệ tương lai sẽ ra sao nếu cứ phải sống trong bóng tối như An, như Liên, như những người ở phố huyện. Tuy vậy, hình ảnh hai đứa trẻ khắc khoải đợi tàu cũng khiến ta thấy được khát vọng của con người, tuy sống trong bế tắc nhưng vẫn luôn hướng tới ánh sáng, tới một cái gì tốt đẹp hơn trong tương lai.

Hai đứa trẻ quả thực là cái tên phù hợp nhất cho câu chuyện của Thạch Lam. Nó vừa khắc sâu hình ảnh nhân vật trung tâm của câu chuyện, vừa thể hiện sự trăn trở, day dứt của tác giả về số phận con người đặc biệt là những đứa trẻ, vừa nâng cao giá trị nhân đạo sâu sắc. Với những ý nghĩa như thế nếu đặt cho câu chuyện một cái tên khác có lẽ sẽ làm giảm đi phần nào giá trị của tác phẩm, làm thay đổi dụng ý của Thạch Lam. Chúng ta có thể đưa ra những tên khác như Chuyến tàu đêm hay Đợi tàu bởi hình ảnh đoàn tàu là một điểm sáng, điểm nhấn duy nhất cho cả một phố huyện phẳng lặng, bế tắc. Nhưng nếu vậy lại không thể hiện được khắc khoải của tác giả về số phận những đứa trẻ, số phận con người trong khi đây là tư tưởng xuyên suốt tác phẩm. Do vậy, Hai đứa trẻ vẫn là sự lựa chọn họp lý và ý nghĩa nhất cho tác phẩm của Thạch Lam.

Bài mẫu phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ 1
2

Bài mẫu phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ 2

Tên tác phẩm: Hai đứa trẻ

Tác giả: Thạch Lam (1910 -1942) là một nhà văn lớn của khuynh hướng văn học lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930-1945

Vài nét về tác phẩm: “Hai đứa trẻ” được rút trong tập truyện ngắn “Nắng trong vườn” (1938). Nhân vật chính của tác phẩm là hai chị em Liên và An.

Nội dung phân tích:

  • Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” là tiếng nói xót thương đối với những kiếp người nghèo đói cơ cực, sống quẩn quanh bế tắc, không ánh sáng, không tương lai, cuộc sống như cát bụi ở phố huyện nghèo trước cách mạng tháng Tám.
  • Qua những cuộc đời đó Thạch Lam làm sống dậy những số phận của một thời, họ không hẳn là những kiếp người bị áp bức bóc lột, nhưng từ cuộc đời họ Thạch Lam gợi cho người đọc sự thương cảm, sự trân trọng ước mong vươn tới cuộc sống tốt đẹp hơn của họ. Vì vậy tác phẩm vừa có giá trị hiện thực vừa có giá trị nhân đạo sâu sắc.

Nếu ai biết đến nhóm Tự lực văn đoàn sẽ không thể không biết đến cái tên Thạch Lam. Ông sinh ra trong một gia đình công chức gốc quan lại. Thạch Lam sinh năm 1910 tại Hải Dương và đây cũng là quê mẹ của ông. Sau này khi đang học dở Trung học ở Hà Nội thì Thạch Lam bỏ đi làm báo, viết văn. Ông là cây bút đắc lực của hai tờ báo rất nổi tiếng thời bấy giờ là Phong hóa và Ngày nay. 

Trong sự nghiệp cầm bút của mình, Thạch Lam sáng tác không nhiều. Những tác phẩm tiêu biểu của ông có Gió đầu mùa, Nắng trong vườn,… Thế nhưng, chừng đó cũng là đủ để Thạch Lam khẳng định được phong cách sáng tác của mình. Truyện ngắn của ông được viết một cách đơn giản, nhẹ nhàng, không nặng về tư tưởng và khiến người đọc dễ đọc, dễ cảm. Tác phẩm Hai đứa trẻ chính là truyện ngắn thành công của Thạch Lam khi viết về cuộc sống của những người nông dân nơi phố huyện nghèo khó.

Hai đứa trẻ trong truyện chính là hai chị em Liên và An. Người chị thì mới mười hai, mười ba còn người em thì mới lên tám, lên chín. Trước đây, gia đình Liên sống ở Hà Nội, vì gia đình sa sút nên mới phải chuyển về phố huyện nghèo này để sống. Vì bận hàng xay hàng xáo nên mẹ giao cho chị em Liên trông coi quầy hàng xén nhỏ. Mỗi ngày, hai chị em đều cố thức đợi tàu qua, khi ấy may ra mới có người ghé mua chút hàng. Vậy là ngày nào, chị em Liên cũng chờ. Trong lúc chờ đợi ấy, cô bé Liên nhìn thấy những mảnh đời xung quanh mình. Dù bản thân chẳng khá gì hơn nhưng nhìn họ, Liên vẫn thương.

Nói truyện ngắn Hai đứa trẻ không có cốt truyện đặc biệt cũng chẳng sai. Đọc qua nội dung câu chuyện có thể thấy Thạch Lam xây dựng một câu chuyện rất giản dị, không kịch tính, không gay cấn. Vậy nhưng, câu chuyện lại khiến cho người đọc cảm động bởi chính những điều dung dị ấy.

Liên, một cô bé mới chỉ mười hai, mười ba nhưng lại già dặn trước tuổi. Cô bé cảm nhận được cái ảm đạm, cái buồn bã và cái nghèo nàn nơi phố huyện. Mọi khung cảnh đều được thu bé lại trong con mắt của em. Liên thậm chí còn ngửi được cả cái mùi đất bốc lên đặc trưng của phố huyện nghèo. Có thể thấy, đây là một cô bé vô cùng nhảy cảm. Cũng chính vì nhạy cảm nên khi nhìn thấy những mảnh đời nơi đây, em mới thấy thương. Liên thương cho những đứa trẻ cù bất cù bơ đang tranh nhau nhặt nhạnh khi chợ tàn. Chúng nhặt bất cứ thứ gì có thể nhặt. Liên thương cho cuộc đời của mẹ con chị Tí ban ngày thì vất vả mò cua bắt tép, đêm xuống thì tất bật với hàng nước đơn sơ. Dường như chẳng có lúc nào họ được nghỉ ngơi. Liên thương cho gia đình bác xẩm chỉ có một manh chiếu rách. Liên thương cho cả bà cụ Thi điên với cuộc sống bí hiểm. Cuộc sống của họ bị bóng tối bủa vây nhưng hoàn toàn không có sự kêu thương. Chỉ có tình thương của cô bé Liên hiện lên trong suốt câu chuyện.

Bác Siêu bán phở ở cách đó không xa. Bác giống như dấu gạch nối giữa những hàng người bần cùng với những hạng người khác nơi phố huyện. Họ có cuộc sống khá giả hơn một chút, đối lập với cảnh sống nghèo nàn. Ở nơi ấy có ánh sáng phản chiếu lại bóng tối.

Có lẽ vì sống trong cảnh tăm tối nên lúc nào Liên và An cũng đi tìm ánh sáng. Đó là ánh sáng từ ngọn đèn của chị Tí, là ánh sáng của những ngôi sao trên bầu trời. Và ánh sáng lớn nhất mà họ mong đợi là ánh sáng từ con tàu. Con tàu chở người, chở hàng nhưng cũng là chở mong ước của hai chị em Liên và An.

Thông qua cái nhìn của hai chị em Liên với những mảnh đời bất hạnh kia, Thạch Lam đã thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc. Truyện là lời nhắc nhở con người hướng về quê hương, nguồn cội. Ông trân trọng những con người bé nhỏ và mong ước cho họ có được một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Bài mẫu phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ 2
3

Bài mẫu phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ 3

Tên tác phẩm: Hai đứa trẻ

Tác giả: Thạch Lam (1910 -1942) là một nhà văn lớn của khuynh hướng văn học lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930-1945

Vài nét về tác phẩm: “Hai đứa trẻ” được rút trong tập truyện ngắn “Nắng trong vườn” (1938). Nhân vật chính của tác phẩm là hai chị em Liên và An.

Nội dung phân tích:

  • Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” là tiếng nói xót thương đối với những kiếp người nghèo đói cơ cực, sống quẩn quanh bế tắc, không ánh sáng, không tương lai, cuộc sống như cát bụi ở phố huyện nghèo trước cách mạng tháng Tám.
  • Qua những cuộc đời đó Thạch Lam làm sống dậy những số phận của một thời, họ không hẳn là những kiếp người bị áp bức bóc lột, nhưng từ cuộc đời họ Thạch Lam gợi cho người đọc sự thương cảm, sự trân trọng ước mong vươn tới cuộc sống tốt đẹp hơn của họ. Vì vậy tác phẩm vừa có giá trị hiện thực vừa có giá trị nhân đạo sâu sắc.

Có một thời, lối “tư duy từ điển” đã làm bó tay không ít người nghiên cứu văn học Việt Nam, đẩy họ đến tình trạng loay hoay trong “cái rọ” của khái niệm. Dựa vào khái niệm, người ta khảo cứu văn chương như một thực thể bị chia cắt một cách siêu hình thành những dòng, những khuynh hướng khác nhau. Khi đem những tiêu chỉ của chủ nghĩa hiện thực phê phán quy chiếu vào văn học 1930 1945 sẽ dễ thấy nổi lên tác phẩm của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan… còn nhiều sáng tác của Thanh Tịnh, Thạch Lam… Như bị lừa vào cái dòng lãng mạn (mà lãng mạn trong cái dân tộc lầm than thì không thể tha thứ!). Tuy nhiên, lịch sử bao giờ cũng mang tính khách quan của nó, “tư duy mới” đã gạt bỏ những hướng đi duy lý chủ quan, để tuy chậm, song chưa muộn, mấy năm gần đây Thạch Lam và một số “danh bút” của một thời văn chương được khẳng định trở lại.

Đọc Thạch Lam, càng thấy ông thật sự là cây bút tài hoa, một nhà văn mà tri thức phương Tây rất phong phú cũng không lấn át được một tâm hồn “thuần Việt”. Sáng tác của ông trong cái vẻ ngoài bình dị là một tấm lòng mẫn cảm, một nhân cách văn hóa, một người bạn của lớp người nghèo khổ ở thời đại ông. Những truyện ngắn “Nhà mẹ Lê”, “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam chỉ khác với “Tắt đèn”, “Bước đường cùng”… ở điển hình và tiếng nói riêng của tác giả và cái chung duy nhất giữa họ là một tấm tình hòa cảm, bao dung.

Khi nghiên cứu khu vực lưu trú của người Việt, chúng ta thường chú ý tới hai khu vực cơ bản: thành thị và nông thôn, ít lưu tâm tới khu vực cư trú tồn tại ở “ranh giới mờ” giữa lối sống đô thị và làng xã là cái phố huyện. Phố huyện có thế được coi như trạm trung chuyển của sự giao lưu giữa thành thị và nông thôn. Dấu ấn của hai nhịp điệu sống, hai lối sống cơ bản của xã hội để lại khó rõ nét trong sinh hoạt cộng đồng phố huyện. Ở thời của Thạch Lam (thậm chí tới ngày nay) văn minh đô thị chưa là tiêu biểu cho xã hội, làng xã và các phố huyện mới thật sự là bộ mặt của xã hội.

Dạo quanh bất kỳ một phố huyện nào cũng có thể xác định những nét cơ bản về phương thức sinh tồn, đặc điểm kinh tế… của một cơ cấu địa phương. Rộng hơn, có thể hiểu được những nét lớn của xã hội, vì lẽ, mấy nghìn năm nay “Văn hóa lúa nước” tạo dựng nên một xã hội Việt nam truyền thống; bên những ưu điểm còn buộc nó phải vận hành trong một vòng quay tù túng, ngưng trệ. Đã từ lâu, nhiều người nhận ra, truyện ngắn “Hai đứa trẻ” dường như đã nhận chân theo kiểu văn chương. Nên không ngẫu nhiên, Thạch Lam lại chọn một phố huyện để nhận chân sự mòn mỏi đơn điệu của lớp người đông nhất trong xã hội lúc đó là những người nghèo.

“Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ, từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều về. Phương Tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn trong lò. Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời.

Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào”… Phố huyện lúc chiều tàn thật thanh bình, yên ả; cũng là lúc cư dân của nó bước vào một đêm mới, lặp lại những gì đã diễn ra như bao nhiêu đêm trước: Chị em cô hàng xén lại ngồi trước cửa ngóng trời, ngóng đất, ngóng người; mẹ con chị hàng nước lại dọn cái bàn nước; bác hàng phở nhóm lại bếp lửa; gia đình bác Xẩm lại chờ khách đến nghe…”. Chừng ấy con người trong bóng tối mong đại một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hàng ngày của họ”… Thật ra, nhịp điệu sống không nhất thiết chỉ có những ngày vui vẻ. Xã hội đù tươi đẹp vẫn có những ngày hè mưa buồn, những ngày thu heo hắt, những ngày đông ảm đạm, nhưng đó là sự bất thường của tự nhiên. Còn cái đêm u tịch được Thạch Lam dựng lại là cái đêm buồn mang số nhiều: “Từ khi có cái cửa hàng này, đêm nào Liên và em cũng ngồi trên chiếc chõng tre dưới gốc bàng với cái tối của quãng phố xung quanh”, “Chị Tí chả kiếm được bao nhiêu, những chiều nào chị cũng dọn từ chập tôi cho đến đêm”… Dạng huống số nhiều của hành động chỉ ra sự lặp lại nhàm chán của sinh hoạt phố huyện, nhàm chán nhưng vẫn lặp lại vì miếng cơm, manh áo: “Ôi chao, sớm muộn gì thì có ăn thua gì”. “Cũng như mọi đêm Liên không còn trông mong còn ai đến mua nữa”, một cách kiếm sống hú họa, vật vờ.

Tác giả đồng điệu với Liên và những người xung quanh cô bằng cách dựng lại mọi chi tiết từ không gian rộng đến sự vật nhỏ nhoi đang chìm trong bóng đêm: “Đường phố và các con ngõ rộng dần dần chứa đầy bóng tối”, “tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại sẫm đen hơn”, “đêm tối vẫn bao bọc xung quanh, đêm của đất quê, và ngoài kia, đồng ruộng mênh mang và yên lặng”. Tối đến mức cả phố huyện đều “thu nhỏ lại”. Vài ánh sáng len qua phên nứa, ngọn đèn con của chị hàng nước, cái bếp lửa của bác hàng phở trở nên lắc lay thảm hại trước bóng đêm, đến ngay cả âm thanh cũng chìm nghỉm trong đó: “Tiếng đàn bầu bần bật trong yên lặng”. “Trống cầm canh ở phố huyện đánh tung lên một tiếng ngắn khô khan, không vang động ra xa, rồi chìm ngay vào bóng tối”, “tiếng vang động của xe hỏa đã nhỏ rồi, và mất dần trong bóng tối”. Bóng tối nhấn chìm cả âm thanh thì quả là rất gợi, nhưng rất thực, thực bởi diễn biến tâm trạng của nhân vật: “đêm tối với Liên quen lắm”, “tâm hồn Liên yên tình hẳn, có những cảm giác mơ hồ không hiểu”, “Liên thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không biết”. Trạng thái bàng bạc của tâm hồn Liên là trạng thái của cả nhóm người quanh Liên qua những mẩu đối thoại rời rạc, vẩn vơ, những câu hỏi đã quen và những câu trả lời cũng đã quen. Nghĩa là mọi người cùng mòn mỏi, cùng u ám, cùng vô định.

Sự tương phản giữa ánh sáng và bóng đêm, giữa âm thanh và tĩnh lặng đem lại cảm giác nặng nề và chị em Liên “buồn ngủ ríu cả mắt”, “vẫn cố gượng để thức khuya chút nữa”, “vì muốn được nhìn chuyến tàu”. Chuyến tàu như ngôi sao băng đêm nào cũng vụt qua thinh không phố vắng vào lúc chín giờ. Chuyến tàu đến rồi đi, nó thuộc về một thế giới khác. Nó lướt qua phố huyện đang chìm trong đêm đen. Nó tỏa sáng. Nó vang động. Nó xa xăm. Nó là giấc mơ huyền ảo. Nó như không có thật. Chuyến tàu vụt qua chỉ đủ sức an ủi những con người lam lũ đang an phận nghèo. Tuy thế nó vẫn là một hy vọng. Chuyến tàu chấm dứt một ngày sinh sống của phố huyện về một thời gian và làm tăng nỗi đợi chờ khắc khoải cho ngày hôm sau.

Bài mẫu phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ 3
4

Bài mẫu phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ 4

Tên tác phẩm: Hai đứa trẻ

Tác giả: Thạch Lam (1910 -1942) là một nhà văn lớn của khuynh hướng văn học lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930-1945

Vài nét về tác phẩm: “Hai đứa trẻ” được rút trong tập truyện ngắn “Nắng trong vườn” (1938). Nhân vật chính của tác phẩm là hai chị em Liên và An.

Nội dung phân tích:

  • Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” là tiếng nói xót thương đối với những kiếp người nghèo đói cơ cực, sống quẩn quanh bế tắc, không ánh sáng, không tương lai, cuộc sống như cát bụi ở phố huyện nghèo trước cách mạng tháng Tám.
  • Qua những cuộc đời đó Thạch Lam làm sống dậy những số phận của một thời, họ không hẳn là những kiếp người bị áp bức bóc lột, nhưng từ cuộc đời họ Thạch Lam gợi cho người đọc sự thương cảm, sự trân trọng ước mong vươn tới cuộc sống tốt đẹp hơn của họ. Vì vậy tác phẩm vừa có giá trị hiện thực vừa có giá trị nhân đạo sâu sắc.

Thạch Lam là một nhà văn xuất sắc của thế kỷ XX, ông là thành viên của Tự lực văn đoàn, từ nhỏ ông sống ở vùng phố huyện nghèo, có lẽ vì vậy mà chính ông cảm nhận sâu sắc được những nổi cơ cực, vất vả của người lao động nông thôn. Thạch Lam được nhận xét là người đôn hậu và tinh tế, nên ông cũng có quan niệm  văn chương lành mạnh và tiến bộ, biệt tài của ông là về mảng truyện ngắn. Mỗi truyện của Thạch Lam như một bài thơ trữ tình, giọng điệu điềm đạm nhưng chứa đựng biết bao tình cảm mến yêu chân thành và sự nhạy cảm của tác giả trước những biến đổi của cảnh vật và lòng người. Văn ông trong sáng, giản dị mà thâm trầm, sâu sắc. Thạch Lam có nhiều tác phẩm xuất sắc, tiêu biểu như: các tập truyện ngắn Gió đầu mùa (1937), Nắng trong vườn (1938), Sợi tóc (1942)… Truyện ngắn Hai đứa trẻ được in trong tập Nắng Trong vườn, đây là một truyện ngắn đặc sắc và mang đậm hơi hướng của Thạch Lam, hòa quyện giữa yếu tố hiện thực và lãng mạn trữ tình.

Tác phẩm mở đầu bằng việc mô tả không gian và thời gian, một cái chòi ở phố huyện nhỏ vào lúc chập tối. Mặt trời lúc này đỏ rực như lửa, mây thì hồng như hòn than sắp tàn. Buổi chiều của làng quê hiện lên êm ả, vắng lặng chỉ có tiếng ếch nhái kêu ngoài đồng ruộng và tiếng muỗi vo ve. Chiều quê buồn, ngập trong bóng tối, khi các nhà đều đã lên đèn, ánh sáng cũng chỉ leo loét, không làm sáng được một không gian chỉ đủ để thấy “cát lấp lánh từng chỗ”, “hòn đá nhỏ một bên sáng, một bên tối”.

Trong cái vắng lặng, yên tĩnh của phố huyện nghèo những con người lao động, những mảnh đời cơ cực được khắc họa rõ nét. Từ những người bán hàng, cố gắng bán đến muộn, những đứa trẻ lom khom “nhặt nhạnh những thanh nứa, thanh tre hay bất cứ thứ gì người bán hàng bỏ lại”.

Ở phố huyện nghèo này dường như ai cũng cơ cực, họ sống dựa vào ga tàu với những chuyến tàu chở người Hà Nội về ngang. Sau một ngày vất vả, tối đến lại trong chờ vào chuyến tàu đêm, như mẹ con chị Tí “ngày, chị đi mò cua bắt tép; tối đến chị mới dọn cái hàng nước”, nơi phố huyện nhỏ bé, vắng lặng có là mấy người, mà mảnh đời ai cũng lam lũ, cơ cực, chị Tí vất vả là vậy nhưng cũng “chả kiếm được bao nhiêu, nhưng chiều nào chị cũng dọn hàng, từ chập tối đến đêm”, quanh đi quẩn lại hàng bán cũng chỉ được mấy người quen thuộc, cơ cực nhưng vẫn phải bám trụ vì bởi không bán thì biết làm sao.

Ngay cả chị em Liên, những đứa trẻ Hà Nội, khi gia đình sa sút về ở tại vùng quê nghèo này. Để thích nghi với cuộc sống nơi đây, để phụ giúp thầy mẹ, Liên phải tập quen dần, quen dần với cái bóng tối tràn ngập mà vốn đứa trẻ nào cũng hãi, tập quen với cơ cực và lao động, ở cái tuổi bé xíu thay vì được vui chơi chị em Liên phải phụ giúp mẹ trong quán tạp hóa, Liên lại tự hào lắm vì chị chứng tỏ mình là con gái lớn và đảm đang. Chị em Liên phải thức đến tận khuya, đợi đến chuyến tàu cuối, hoạt động cuối cùng của phố huyện chỉ để xem có bán được gói thuốc hay bao diêm nào không.

Những cuộc đời cơ cực của người lao động nghèo vất vả mưu sinh, sống dựa vào ga tàu còn có gánh Phở của bác Siêu, ở phố huyện nghèo đấy là thức quà xa xỉ hay gia đình bác xẩm, cả nhà ba người trên một manh chiếu, sống dựa vào tiếng đàn bầu và lời hát rong, những bác phu xe uống nước chè, hút thuốc lào đợi chuyến tàu cuối để được thêm vài người khách… “chừng ấy người trong bóng tối mong đợi cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ của họ”.

Sự chờ đợi của tất cả họ là chuyến tàu đêm khuya, như chị em Liên cũng chờ đợi chuyến tàu là hoạt động cuối cùng của đêm khuya ấy, không hẳn đợi để bán được thêm thứ gì đó, thứ mà chị em Liên trông đợi chính là được ngắm nhìn thứ ánh sáng mà đoàn tàu mang lại. Thứ ánh sáng của phố thị phồn hoa, của cuộc sống xa hoa, rực rỡ, con tàu mang đến một thế giới khác, một thế giới khác hẳn với nơi quê nghèo yên tĩnh, vắng lặng.  Trên chuyến tàu là những ánh đèn sáng trưng, là lố nhố người và người, mang đến hình ảnh rực rỡ và huyên náo, chuyến tàu chính là khát vọng và mong ước của những con người nơi phố huyện nghèo, những người ước ao có một cuộc sống tươi đẹp hơn, xa hoa và náo nhiệt hơn. Sự đối lập giữa cảnh đoàn tàu đến và khi đoàn tàu đi qua không gian lại bao trùm bởi bóng tối và yên lặng của đất, của đồng ruộng mênh mông chính là thể hiện khát vọng thoát khỏi cái u tối, tĩnh mịch của nghèo đói, khát khao muốn vươn lên có cuộc sống ấm no, sung túc và náo nhiệt hơn.

Thạch Lam lựa chọn viết về phố huyện nghèo qua cái nhìn của đứa trẻ, để làm dịu đi cái u tối, tịch mịch của nghèo khổ và cơ cực. Từ trong những bóng tối của làng quê nghèo sự trong sáng, non nớt và lương thiện của đứa trẻ mang đến ánh sáng hy vọng cho quê nghèo. Sự lương thiện, trong sáng từ trái tim Liên, em thương những đứa trẻ nghèo dù ngay cả em cũng chẳng có tiền cho chúng; em vừa thương vừa sợ cụ Thi, một người hơi điên hay đến mua rượu, em lúc nào cũng rót cho cụ một ti rượu đầy. Em thương sự cơ cực của mẹ con chị Tí, thương bác xẩm hát mà chẳng có người nghe, thương bác Siêu với gánh hàng xa xỉ…Dưới ánh nhìn non nớt của một đứa trẻ, sự u tối và tĩnh mịch của làng quê nghèo cũng nhẹ nhàng hơn, êm ả hơn, dù vậy cái buồn vẫn thấm thía vào tâm hồn ngây thơ, từ đó khắc họa sâu sắc hơn khát vọng mong muốn được có cuộc sống tươi đẹp hơn qua hành động trông chờ, mong đợi để được nhìn ánh sáng trên tàu.

Hai đứa trẻ được Thạch Lam viết nên từ sự xót thương đối với những con người sống cơ cực, nghèo khổ, quẩn quanh và sự cảm thông, trân trọng của ông trước mong ước của họ về một cuộc sống tươi sáng hơn. Với cốt truyện đơn giản, nhưng nhẹ nhàng, trữ tình cái cơ cực, vất vả được miêu tả không gây nên áp lực hay nỗi đau mà chỉ nhẹ nhàng, sâu lắng cũng đủ làm thấm thía đến nỗi xót thương của người đọc. Đây cũng là phong cách viết độc đáo của Thạch Lam, viết truyện mà không chuyện, đi sâu vào nội tâm nhân vật với những cảm xúc mong manh, mơ hồ trong cuộc sống hàng ngày.

Bài mẫu phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ 4
5

Bài mẫu phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ 5

Tên tác phẩm: Hai đứa trẻ

Tác giả: Thạch Lam (1910 -1942) là một nhà văn lớn của khuynh hướng văn học lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930-1945

Vài nét về tác phẩm: “Hai đứa trẻ” được rút trong tập truyện ngắn “Nắng trong vườn” (1938). Nhân vật chính của tác phẩm là hai chị em Liên và An.

Nội dung phân tích:

  • Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” là tiếng nói xót thương đối với những kiếp người nghèo đói cơ cực, sống quẩn quanh bế tắc, không ánh sáng, không tương lai, cuộc sống như cát bụi ở phố huyện nghèo trước cách mạng tháng Tám.
  • Qua những cuộc đời đó Thạch Lam làm sống dậy những số phận của một thời, họ không hẳn là những kiếp người bị áp bức bóc lột, nhưng từ cuộc đời họ Thạch Lam gợi cho người đọc sự thương cảm, sự trân trọng ước mong vươn tới cuộc sống tốt đẹp hơn của họ. Vì vậy tác phẩm vừa có giá trị hiện thực vừa có giá trị nhân đạo sâu sắc.

Hai đứa trẻ là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất cho đời thơ Thạch Lam. Bằng những câu văn giản dị, mộc mạc Thạch Lam đã vẽ nên một bức tranh buổi chiều nơi phố huyện nghèo đầy bình lặng, thanh bình nhưng lắng sâu và chan chứa tình cảm. Những nét vẽ hết sức giản đơn nhưng lại tinh tế vô cùng. Một bức tranh phố huyện lúc chiều tàn có sự đan xen hòa hợp giữa cảnh sắc thiên nhiên, cuộc sống sinh hoạt và nét đẹp tâm hồn con người.

Tác phẩm mở đầu với những nét gợi đơn giản và huyền ảo về thiên nhiên. Để tô vẽ nên bức tranh của mình Thạch Lam đã dùng cái quan sát rất tài tình. Ông tận dụng hết cả thị giác và thính giác của mình để dựng nên các cảnh và cứ cảnh trước lại mở ra cảnh sau, nâng đỡ, tô điểm. Hoàn cảnh buổi chiều nơi phố huyện bắt đầu với “tiếng trống thu không… từng tiếng một vang ra xa”, tiếng trống thu là tiếng trống đánh dấu sự khép lại của ngày dài, từng hồi tiếng một buông ra nghe thật thảm thiết não nề, đượm buồn. Tiếng trống thu như đang thúc giục gọi buổi chiều man mác. Một không gian yên tĩnh đến nỗi tác giả còn có thể nghe được cả tiếng muỗi vo ve. Và phía xa xa tiếng ếch nhái văng vẳng từ ngoài đồng xa vọng lại. Phía trước nhà là tiếng chõng cũ nát kêu cót két, tàn tạ. Cả đất trời như chan chứa một khoảng không tĩnh mịch, êm ả đượm chút buồn, thê lương đến ảm đạm. Một loạt các âm thanh động cộng hưởng với nhau lại gợi ra một không gian tĩnh lặng, vắng vẻ đến nao lòng. Bút pháp tài tình lấy động tả tĩnh của Thạch Lam thật khiến lòng người rung động.

Cái độc đáo của Thạch Lam ở chỗ ông chẳng cần dùng những nét vẽ cao xa mà chỉ cần phẩy tay vấy hồn cho những cảnh đơn sơ, mộc mạc cũng đã khiến nó trở lên thật tuyệt tác. Bên cạnh những âm thanh đặc trưng nhà văn còn đan xen thêm những đường nét, hình ảnh và màu sắc chân thực của bức tranh phố huyện lúc trời chiều. Đó là “Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn”. Mặt trời đang dần nghiêng bóng về phía tây, những ánh nắng không còn chói chang, sức sống nhữ buổi trưa nữa mà đã chuyển dần sang màu đỏ rực, lóe lên lần cuối trước khi lụi tàn. Dấu hiệu của sự lụi tàn đang chập chững buông xuống, bóng tối đang xâm lấn vào từng thớ đất, thớ trời. Màu đỏ vốn là một gam màu tươi sáng nhưng đặt trong ngữ cảnh nó lại gợi ra cái ảm đạm, cô đơn của cảnh sắc, của lòng người. Đây là thủ pháp quen thuộc trong thi ca cổ điển: “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”.

Những đường nét quen thuộc của bức tranh thiên nhiên trời chiều được dựng lên: “dãy tre làng đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời”. Hình ảnh của dãy tre làng trước mặt cắt hình rõ rệt trên nền trời xám xịt. Đây là một hình ảnh tả thực, khi thời khắc chuyển dần về buổi tối, nhìn xa xăm thu lại vào ánh mắt ta chỉ là cái bóng của cảnh vật, mọi cảnh vật đen lại phản chiếu rõ rệt trên nền trời. Không gian như chỉ bao trùm một màu sắc u tối, nhạt nhòa.

Không quá cao sang, không gay gắt mà chỉ bằng những câu văn giản dị, rất đỗi chân thực đã miêu tả rõ nét cái thần và hồn của phong cảnh làng quê Việt Nam, rất đỗi thanh bình, dịu nhẹ nhưng lại u buồn và lặng lẽ nhường nào.

Cảnh thiên nhiên chỉ là khúc dạo đầu để mở ra cảnh sinh hoạt của người dân nơi phố huyện lúc chiều tà. Bức tranh sinh hoạt được mở ra với không gian cảnh chợ tàn: “Chợ họp giữa phố vẫn từ lâu. Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất. Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và bã mía”. Không gian yên tĩnh với những hình ảnh ảo não, tiêu điều, thất thơ được liệt kê: đó là rác rưởi, vỏ bưởi, bã mía. Đây là những gì cuối cùng còn sót lại sau khi vãn chợ. Rồi những đứa trẻ nghèo tội nghiệp vất vưởng lom khom trên mặt đất tìm tòi, nhặt nhạnh những gì người bán hàng để lại. Cảnh chợ thế nhưng lại là chợ tàn, chợ buồn, xơ xác đến ám ảnh. Và cái mùi “âm ẩm bốc lên”, cái mùi chẳng mấy là dễ chịu lại cứ “nồng nàn” chìm vào không gian, thế nhưng mùi vị ấy lại quá quen thuộc, đó là mùi của đất quê hương, trở thành một nỗi thắm thiết da diết trong tâm hồn cô bé Liên.

Trong bức tranh cảnh sinh hoạt nổi bật lên với hình ảnh của những kiếp người tàn. Tại sao lại gọi là kiếp người tàn. Bởi cuộc đời những con người ấy là chuỗi dài những cơ cực, khổ đau, họ bị cuộc sống nghèo nàn bủa vây, đeo đuổi. Bắt đầu từ những đứa trẻ con nhà nghèo ở khu bên chợ, rồi đến mẹ con chị Tí loay hoay, mệt nhọc với gánh hàng mà cũng chẳng mấy ăn thua: “Ngày, chị đi mò cua bắt tép; tối đến chị mới dọn cái hàng nước này dưới gốc cây bàng, bên cạnh cái mốc gạch. Để bán cho ai? Mấy người phu gạo hay phu xe, thỉnh thoảng có mấy chú lính lệ trong huyện hay người nhà thầy thừa đi gọi chân tổ tôm, cao hứng vào hàng chị uống bát nước chè tươi và hút điếu thuốc lào. Chị Tí chả kiếm được bao nhiêu, nhưng chiều nào chị cũng dọn hàng, từ chập tối cho đến đêm”; là bà cụ Thi với tiếng cười ám ảnh, chua chát và đầy ngao ngán. Phải chăng vì cuộc đời bà đã quá khổ, đã nếm trải đủ đắng cay, đã khóc quá nhiều đến nỗi nước mắt đã cạn, giờ đây chỉ biết lấy tiếng cười than thay cho nỗi lòng xót thương, rồi đến cả chị em Liên còn bé nhưng đã phải đối mặt với sức lo cơm áo gạo tiền, vốn cái tuổi được ăn chơi học hành nhưng các em đã phải phụ mẹ bán hàng kiếm tiền trang trải cho cuộc sống, cả mẹ Liên cơ cực gồng gánh cả gia đình.

Bức tranh sinh hoạt càng khiến cho phố huyện lúc nhá nhem thêm tàn phai, héo úa, số phận con người hiện lên thật nhỏ bé, rẻ rúm và đáng thương. Đây chính là thực tại miền Bắc nước ta một thời.

Dù là cảnh thiên nhiên hay cảnh sinh hoạt cũng cốt là làm nổi lên bức tranh tâm hồn nhân vật Liên. Trong tâm hồn của cô bé mới 9 tuổi hiện lên những nét vẽ thật đẹp, thật thơ mộng. Dưới ánh nhìn của tác giả sáng lên trong tâm hồn ngây thơ hồn nhiên ấy đó là vẻ đẹp tinh tế nhạy cảm trước sự biến chuyển của thiên nhiên trong thời khắc lụi tàn: Phải yêu quê hương, gắn bó với quê hương da diết đến thế nào cô bé mới có thể cảm nhận và yêu được hết cả cái mùi âm ẩm từ đất bốc lên, phải tinh tế ra sao mới thấy được cái hay cái đẹp và trân trọng cái dáng vẻ, bóng hình và âm thanh quê hương; bóng tối buông xuống như thấm sâu vào tâm hồn Liên trở thành chút dư vị quen thuộc, gắn bó. Sau tất cả bừng sáng lên nét đẹp trong tâm hồn em đó chính là tình thương người sâu sắc.

Cách kể về cuộc sống mưu sinh của chị Tí, về tiếng cười bà cụ Thi hay động lòng lương với những đứa trẻ nghèo “Liên trông thấy động lòng thương nhưng chính chị cũng không có tiền để mà cho chúng nó”. Quan sát tỉ mỉ từng hoạt động, chi tiết nhất đủ để thấy Liên quan tâm đến mọi người như thế nào, tình cảm Liên dành cho những người dân xung quanh thấm đượm nghĩa tình. Những con người nơi đây cứ lẳng lặng, bình yên nhìn dòng đời chảy trôi như thế, nhìn cái đói hoành hành mà chẳng thể nào làm gì khác hơn. Để rồi họ thèm lắm, họ khao khát một chuyến tàu Hà Nội chạy qua, mang theo ánh sáng diệu kì, soi sáng cho cuộc đời nơi tăm tối.

Câu chuyện qua đi nhưng đó vẫn là những hiện thực của miền Bắc một thời với cuộc sống bần cùng, cơ cực của người dân đồng thời bày tỏ nỗi niềm cảm thông, chia sẻ đối với cuộc sống của những kiếp người bạc bẽo ấy.

Bài mẫu phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ 5
6

Bài mẫu phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ 6

Tên tác phẩm: Hai đứa trẻ

Tác giả: Thạch Lam (1910 -1942) là một nhà văn lớn của khuynh hướng văn học lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930-1945

Vài nét về tác phẩm: “Hai đứa trẻ” được rút trong tập truyện ngắn “Nắng trong vườn” (1938). Nhân vật chính của tác phẩm là hai chị em Liên và An.

Nội dung phân tích:

  • Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” là tiếng nói xót thương đối với những kiếp người nghèo đói cơ cực, sống quẩn quanh bế tắc, không ánh sáng, không tương lai, cuộc sống như cát bụi ở phố huyện nghèo trước cách mạng tháng Tám.
  • Qua những cuộc đời đó Thạch Lam làm sống dậy những số phận của một thời, họ không hẳn là những kiếp người bị áp bức bóc lột, nhưng từ cuộc đời họ Thạch Lam gợi cho người đọc sự thương cảm, sự trân trọng ước mong vươn tới cuộc sống tốt đẹp hơn của họ. Vì vậy tác phẩm vừa có giá trị hiện thực vừa có giá trị nhân đạo sâu sắc.

Nếu như các nhà văn thuộc Tự lực văn đoàn miêu tả cuộc sống với tất cả những gì đẹp nhất, trong sáng nhất thì Thạch Lam lại tìm cho mình một lối đi riêng. Dưới con mắt của ông, đời không chỉ có tình yêu mãnh liệt đến quên cả đất trời, quên cả mọi người mà còn có cả những nỗi đau. Ngòi bút Thạch Lam hòa cùng cuộc sống, lách vào sâu những ngõ ngách tâm hồn con người để từ đó chắt lọc ra cả một bức tranh đời sống nơi phố huyện nghèo (Hai đứa trẻ) mà ở đó bóng tối đè nặng lên cuộc sống cùng cực, luẩn quẩn của con người.

Bức tranh đời sống huyện bắt đầu với cảnh nhá nhem tối và kết thúc với cảnh chờ tàu của chị em Liên và mọi người. Toàn bộ bức tranh là bóng tối, bóng tối lan tỏa, bao trùm lên cảnh vật, tạo nên bầu không khí nặng nề, u uất. Dường như cuộc sống ở đây chỉ có một màu đen xám xịt. Bóng tối ớ rặng tre, bóng tối ở góc quán, bóng tối ở ánh sáng lập lòe của đom đóm. Tất cả, tất cả đều chìm vào bóng tối. Cuộc sống con người nơi phố huyện vốn đã không sung túc gì lại bị màn đêm bao trùm, đè nặng lại càng trở nên côi cút, lẻ loi đến tội nghiệp. Đâu đó vài đứa trẻ nhặt nhạnh nơi góc chợ hoang vắng lúc vào đêm. Chị em Liên quanh quẩn cùng quán hàng xén vốn đã vắng khách. Hàng phở của bác Siêu lặng lẽ lăn bánh.. Những hình ảnh lẻ loi, đơn chiếc ấy cùng vài ánh sáng nhỏ nhoi không đủ để xua tan bóng tối dày đặc, lan tỏa đang dần đè lên cuộc sống của họ - những con người mà số lượng có thể đếm được trên đầu ngón tay "mấy chú", "mấy người". Bóng tối cùng người bạn đồng hành của mình là sự im lặng đã thống trị trên cõi người. Thời gian bỗng chốc trở nên im lặng, uất ức đến lạ kỳ. Không gian bị uất nghẹn của kiếp người. Bức tranh ấy gợi lên bao nỗi xót xa.

Nhưng Thạch Lam - người nghệ sĩ của tâm hồn ấy không dừng lại ở khắc họa bóng tối. Bóng tối đã đáng sợ nhưng cuộc sống quẩn quanh ở góc phố còn đáng sợ hơn. Họ ở đây chỉ toàn những người nghèo. Đó là gia đình chị em Liên do túng quẫn mà phải về phố huyện. Đó là bà cụ Thi hơi điên: là gia đình bác Xẩm; là gánh hàng chị Tí; là quán phở của bác Siêu... Những mảnh đời nghèo khó nơi phố huyện tụ họp lại không đủ để làm nên cuộc sống ồn ào. Cả một sự tẻ nhạt đến kinh khủng hiện ra. Chỉ qua một chi tiết nhỏ: chị em Liên không ngoái lại cùng biết tiếng cười khanh khách đằng sau là của bà cụ Thi, nhìn đốm sáng xanh lúc ẩn lúc hiện đằng xa cũng biết là gánh phở của bác Siêu.

Dường như bao năm, bao tháng rồi họ chỉ một công việc lập đi lập lại đó. Một công việc nhàm chán, tẻ nhạt như chính cuộc đời của họ. Những sự việc ấy làm cho cuộc sống của họ thêm tù túng, ngột ngạt, không có lối thoát., không biết đi đâu. Đối với họ, tương lai dường như không có mà chỉ có thực tại u buồn, quẫn bách. Trước mắt họ, tương lai đã khép kín cánh cửa. Họ không hi vọng điều gì, không ngóng đợi ai. Hiện tại chỉ là những nghèo khó, cơ cực, tù túng cùng những công việc nhàm chán. Bức tranh ấy xoáy lên một nỗi đau trong tâm hồn độc giả, bật lên thành những tiếng kêu uất ức mà không có lời giải đáp.

Tất cả những hành động, sự việc và cuộc đời con người ở phố huyện nghèo đều lặp lại và nhàm chán. Duy chỉ có con tàu vẫn lặp đi lặp lại nhưng không nhàm chán. Con tàu là hiện thân của ước vọng, của tương lai đối với mọi người. Họ tìm đến với con tàu, chờ đợi nó không phải chỉ để buôn bán mà còn đón chờ một cái gì lạ lẫm đối với cuộc sống chung quanh vốn đã đơn điệu. Con tàu đó với tiếng máy gầm phá tan bầu không khí vốn đã u uất nặng nề, với ánh sáng chói lọi, rực rỡ xé toang màn đêm bao phủ rồi lại rơi vào tối tăm như cũ. Với chị em Liên, con tàu còn là hiện thân của quá khứ huy hoàng với cuộc sống sung túc ở Hà Nội, là chút gì mới mé ở hiện tại và cả niềm mơ ước ở tương lai. Hình ảnh con tàu vụt qua đã làm giảm bớt sự bế tắc tù túng của một cuộc sống để lại ước mơ - một ước mơ hết sức tội nghiệp cho mỗi con người.

Nếu như các nhà văn thuộc Tự lực văn đoàn đã xa rời thực tại, thi vị hóa cuộc sống thì Thạch Lam lại gắn chặt ngòi bút với đời sống, dù ông là thành viên chủ chốt của văn đàn ấy. Nếu đồng nghiệp của ông ca ngợi tình yêu khi say đắm, khi đau đớn, lúc xô bồ (Hồn bướm mơ tiên, Trăng sáng, Tình tuyệt vọng...) thì Thạch Lam lại đến với tình người. Văn chương Thạch Lam lay động đến cõi sâu thẳm nhất của tâm hồn con người và thức tỉnh họ bằng những nỗi đau. Với phong cách vừa lãng mạn, vừa hiện thực, ngòi bút Thạch Lam thực sự xuất sắc khi viết về cuộc sống con người nghèo khổ, cùng những nỗi đau âm thầm, nhẹ nhàng nhưng khi gấp sách lại ta không sao quên được. Không phải là những nụ cười đến thắt ruột, cười ra nước mắt của Nguyễn Công Hoan, không phải cái xót xa đến tận xương tủy như Nam Cao nhưng những trang văn nhẹ nhàng, tinh tế và sâu lắng của Thạch Lam đã lột tả hết cuộc sống phố huyện và cũng là cuộc sống của xã hội Việt Nam tù túng, ngột ngạt đương thời, đem đến cho người đọc những tình cảm thương xót đầy tính nhân bản.

Bài mẫu phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ 6
7

Bài mẫu phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ 7

Tên tác phẩm: Hai đứa trẻ

Tác giả: Thạch Lam (1910 -1942) là một nhà văn lớn của khuynh hướng văn học lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930-1945

Vài nét về tác phẩm: “Hai đứa trẻ” được rút trong tập truyện ngắn “Nắng trong vườn” (1938). Nhân vật chính của tác phẩm là hai chị em Liên và An.

Nội dung phân tích:

  • Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” là tiếng nói xót thương đối với những kiếp người nghèo đói cơ cực, sống quẩn quanh bế tắc, không ánh sáng, không tương lai, cuộc sống như cát bụi ở phố huyện nghèo trước cách mạng tháng Tám.
  • Qua những cuộc đời đó Thạch Lam làm sống dậy những số phận của một thời, họ không hẳn là những kiếp người bị áp bức bóc lột, nhưng từ cuộc đời họ Thạch Lam gợi cho người đọc sự thương cảm, sự trân trọng ước mong vươn tới cuộc sống tốt đẹp hơn của họ. Vì vậy tác phẩm vừa có giá trị hiện thực vừa có giá trị nhân đạo sâu sắc.

Nhiều truyện ngắn của Thạch Lam là những hồi ức và kỉ niệm, nhất là những kỉ niệm thời thơ ấu. Phân tâm học hiện đại coi tuổi thơ là vương quốc của mọi nguyên nhân. Chúng ta không xem tuổi thơ là tất cả, là nguyên nhân quyết định quá trình phát triển sau này của tính cách nhà văn. Nhưng rõ ràng là qua sự chọn lọc và đào thải của thời gian, những kỉ niệm, những cảm giác từ tuổi thơ ấu còn lại đến bây giờ phải là những gì thật sự lắng đọng, mạnh mẽ và sâu sắc đến mức có thế đi mãi với ta trong suốt cuộc đời. Thời gian như một cái bình lọc kỳ diệu, nó chí để lại trong tâm hồn đa cảm và tinh tế của Thạch Lam những chi tiết điển hình, những cảm giác sâu lắng, những ấn tượng không thể phai mờ. Truyện ngắn viết về kỷ niệm ấu thơ cửa Thạch Lam làm ta xúc động chính là vì như thế. Những kỉ niệm về cái phố huyện cẩm Giàng bên cạnh đường xe lửa Hà Nội – Hải Phòng với xóm chợ của những người dân nghèo là chất liệu của ba truyện ngắn Nhà mẹ Lê, Gió lạnh đầu mùa, Hai đứa trẻ.

Cả một thời ấu thơ, Thạch Lam sống gần gũi bên những người mẹ nghèo lam lũ và đông con như mẹ Lê, mẹ Đối, những người dân quê ở Hà Nam, Phủ Lý vì bị lụt lội, đói kém nôn phải tha phương cầu thực, kéo nhau đến kiếm ăn ở phố huyện miền trung du. Gia đình Thạch Lam đã có lúc lâm vào cảnh túng quẫn sau khi người cha mất Ở sầm Nưa. Bà mẹ tần tảo buôn bán nuôi bảy con Ở cái phố huyện cẩm Giàng (Hải Dương); cái không gian buồn tẻ, quạnh hiu của phố huyện sau này xuất hiện tràn đầy trong các truyện ngắn của Thạch Lam và Nhất Linh với những mái tranh xơ xác, tường đắp bằng đất, những quán chợ vắng lặng đứng chơ vơ trong gió rét chiều đông. Trong các truyện ngắn, Thạch Lam viết về những người mẹ nghèo và các em bé ở xóm chợ đó với một niềm cảm thông chân thành, man mác. Cuộc đời thầm lặng của họ bị chìm vào trong “bóng tôi uất ức nhẫn nại của dời thôn quê dưới mái lá nát hay những đêm sâu điểm trống huyện” (Thế Lữ) (Thế Lữ, Tính cách tạo tác của Thạch Lam. Thanh Nghị số 39 ngày 16-6-1943)

“Mấy đứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ cúi lom khom trên mặt đất đi lại tìm tòi. Chúng nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre, hay bất cứ cái gi có the dừng dược của các người bán hàng để lại… Trời nhá nhem tối, bấy giờ hai chị em Liên mới thấy thằng cu bé xách điếu đóm và khiêng hai cái ghế trên lưng ở trong ngõ di ra: chị Tí mẹ nó theo sau… Ngày, chị di mò cua bát tép, tối đèn chị mới dọn cái hàng nước này dưới gốc cây bàng, bên cạnh cái mốc gạch. Tôi hết cả, con dường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngỏ vào làng lại sẫm đen hơn nữa… Tất cá phố xà trong huyện bây giờ đều thu nhỏ lại nơi hàng nước của chị Tí. Thêm dược một gia đình bác xẩm ngồi trên manh chiếu, cái thau sắt trắng để trước mặt, nhưng bác chưa hát vì chưa có khách nghe… Thằng con bò ra đất, ngoài manh chiếu, nghịch nhặt những rác bẩn vùi trong cát bên đường. Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi cho sự sống nghèo khổ hàng ngày”.

Trong truyện ngắn của Thạch Lam, sự cảm thông chân thành đôi với những người dân quê nghèo khô thường quyện lẫn với tình cảm đất nước, quê hương với sự chắt chiu những màu sắc và hương vị dân tộc. Thạch Lam có biệt tài miêu tả những đường nét, màu sắc và mùi vị của quê hương: từ mùi quen của đất màu, mùi bèo ở dưới ao, mùa rạ ẩm ướt và mùi phân trâu nồng ấm đến tiếng lá tre khô xao xác, tiếng gió thổi qua đồng trống những buổi chiều mùa đông rét mướt, tiêng trông thu không của huyện đường bị nhòe đi vào bóng tôi của một vùng quê mênh mông… Trong truyện Hai đứa trẻ, khi bóng hoàng hôn ngập đầy dần trong đôi mắt Liên thì cái buồn của buổi chiều tĩnh lặng cũng man mác hòa vào tâm hồn ngáy thơ của cô bé. Và từ phiên chợ chiều họp giữa phô đã vẩn một mùi âm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn với mùi rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn, bã mía quen thuộc quá, “khiến chị em Liên tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này”.

Thạch Lam viết truyện ngắn với một nghệ thuật tinh tế, nhất là việc sử dụng sự tương phản và hài hòa giữa các âm thanh, giữa các vùng ánh sáng. Cả một phố huyện chìm sâu vào bóng tôi, chỉ còn một vài chấm sáng lù mù quen thuộc xung quanh ngọn đèn vặn nhỏ thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa của một cửa hàng tạp hóa. Trong cái cảnh chìm chìm nhạt nhạt và vắng lặng đó, đêm nào cũng có một đoàn tàu đi qua mang theo những luồng ánh sáng mạnh quét vào hai bên và tiêng ồn ào làm xao động cả một vùng quê yên tĩnh. Và đêm nào chị em Liên cũng cố thức để đón chuyến tàu 9 giờ ở Hà Nội về đi qua phô huyện Câm Giàng đã để lại nhiều kỉ niệm vui buồn trong thời thơ ấu của Thạch Lam. Ta hãy nghe bà Nguyễn Thị Thế kể lại: “Thời kỳ tôi mong ngóng nhất là kỳ nghỉ hè vi lúc đó các anh tôi, người Hà Nội, kẻ Hái Dương đều trở về quê. Ngày bãi trường, hai chị em tôi dắt nhau ra ga từ sáng sớm. Đoàn tàu còn xa đã thấy hai anh đứng ở cửa toa bên rương quẩn áo. Bao giờ tôi và Vinh cũng bỡ ngỡ và hơi sợ hãi lúc đầu vì sau một niên học, các anh thường lớn lên nhiều và có vẻ nghiêm trang như người lớn” (Nguyễn Thị Thê" – Người em thứ sáu – Văn (Sài gòn) số 36, ra ngày 15-6-1965. Nguyễn Tường Vinh là tên Thạch Lam hồi còn bé, sau đổi là Nguyễn Tường Lân). Lại có thời kỳ bà mẹ nâu thuốc phiện lậu nên mấy anh em Thạch Lam phải thay phiên nhau canh chừng bọn Tây đoan mỗi khi có đoàn tàu đến. Có một lần, đoàn tàu đỗ ở ga vào phiên canh của Thạch Lam “Chú đứng ở sân ga ngó một lượt, không thấy Tây đoan xuống, thê là chú yên chí lên đầu đoàn xe, nằm dài ra ngắm đầu tàu. Trong khi Tây đoan xuống ngắm các cơ phận của đầu máy” (Thế Uyên – Nhật Linh trong dĩ vãng một người trẻ tuổi. Văn, số 14, ngày 15-7- 1964). Đoàn tàu đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn thơ ngây và ít nhiều mơ mộng của Thạch Lam. Nhưng ở đây, trong truyện Hai đứa trẻ, việc chờ đợi đoàn tàu đêm trở về mang một ý nghĩa khác. Không phải để đón người thân đi học xa về nghỉ hè, không phải đê canh hàng, mà là một nhu cầu bức thiết về tinh thần của hai em bé, muôn trong chốc lát được thoát ra khỏi cuộc đời tù túng, thầm lặng như những chấm sáng lù mù quanh quất nơi phố huyện. Thạch Lam đã tìm cách nâng cao ý nghĩa khái quát nghệ thuật của một tình tiết có thật trong cuộc đời hai em bé. Đoàn tàu như mang đến một thê" giới khác hẳn với vầng sáng lù mù của mấy ngọn đèn leo lét nơi phố vắng một huyện nhó. Một phút ánh sáng ở một thế giới xa xăm, những mơ ước của hai đứa trẻ vụt đến và đi qua, phố huyện lại chìm sâu vào bóng tôi hiu quạnh.

Câu chuyện của Thạch Lam để lại trong tâm hồn ta những'dư vị đằm thăm của quê hương và một sự cảm thương man mác những cuộc đời thâm lặng như những chấm sáng lù mù bị nhòe đi trong bóng tối dày đặc của một vùng quê tù đọng. Thạch Lam cũng muốn đánh thức dậy trong những tâm hồn mệt mỏi, cam chịu những ước mơ trong sáng về một cuộc đời đẹp đẽ hơn, có ý nghĩa hơn, sôi nổi và mãnh liệt hơn.

Bài mẫu phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ 7
8

Bài mẫu phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ 8

Tên tác phẩm: Hai đứa trẻ

Tác giả: Thạch Lam (1910 -1942) là một nhà văn lớn của khuynh hướng văn học lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930-1945

Vài nét về tác phẩm: “Hai đứa trẻ” được rút trong tập truyện ngắn “Nắng trong vườn” (1938). Nhân vật chính của tác phẩm là hai chị em Liên và An.

Nội dung phân tích:

  • Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” là tiếng nói xót thương đối với những kiếp người nghèo đói cơ cực, sống quẩn quanh bế tắc, không ánh sáng, không tương lai, cuộc sống như cát bụi ở phố huyện nghèo trước cách mạng tháng Tám.
  • Qua những cuộc đời đó Thạch Lam làm sống dậy những số phận của một thời, họ không hẳn là những kiếp người bị áp bức bóc lột, nhưng từ cuộc đời họ Thạch Lam gợi cho người đọc sự thương cảm, sự trân trọng ước mong vươn tới cuộc sống tốt đẹp hơn của họ. Vì vậy tác phẩm vừa có giá trị hiện thực vừa có giá trị nhân đạo sâu sắc.

Thạch Lam cây bút văn xuôi lãng mạn tiêu biểu của văn học 1930 - 1945, các sáng tác của ông tập trung đi sâu khai thác vào cuộc sống đời thường, bình dị. Với những tác phẩm thường “truyện không có chuyện” nhưng lại để lại những dư âm sâu sắc trong lòng người đọc về vẻ đẹp cuộc sống, tâm hồn con người. Hai đứa trẻ là một tác phẩm mang trong mình vẻ đẹp giản dị, sâu lắng như vậy.

Tác phẩm được xuất bản năm 1938 in trong tập Nắng trong vườn. Tác phẩm là lát cắt hiện thực cuộc sống nơi phố huyện nghèo từ khoảnh khắc chiều tàn cho đến đêm khuya. Nhưng với ngòi bút tinh tế, Thạch Lam đã đi sâu khám phá vẻ đẹp của con người, cuộc sống nơi đây.

Mở đầu tác phẩm là khung cảnh thiên nhiên hết sức nên thơ nhưng đượm buồn với tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng, tiếng trống thu không văng vẳng vang lên, tiếng muỗi vo ve khắp nơi. Nếu có âm thanh cất lên cũng không mang lại sự tươi vui, rộn rã, ngược lại chỉ gợi lên sự tĩnh mịch của cảnh và sự ảm đạm của không gian. Gam màu chủ đạo của khung cảnh là màu đỏ như lửa cháy: “Phương tây đỏ rực như cháy và những đám mây hồng như hòn than sắp tàn” . Những sắc màu này thường gợi lên sức sống, sự ấm nóng như với bức tranh của Thạch Lam lại chỉ gợi lên sự lụi tàn, mặt trời sắp lặn, những đám mây cũng như hòn than sắp tàn. Sự ảm đạm, buồn rầu bao trùm lên cảnh vật khi bóng chiều dần buông.

Trong không gian của buổi chiều tàn, bức tranh sinh hoạt của con người hiện lên cũng chẳng mấy sáng sủa hơn. Chỉ có một âm thanh duy nhất xuất hiện “tiếng ồn ào cũng mất” khi chợ đã họp và vãn từ lâu, trả lại cho phố huyện sự tĩnh lặng vốn có. Trên nền chợ chỉ còn lại vỏ thị, vỏ bưởi, lá nhãn,… những thứ người ta bỏ đi sau một buổi chợ phiên. Những đứa trẻ con nhà nghèo vẫn cố tìm tòi, nhặt nhạnh những thứ còn sót lại trên mặt đất. Cuộc sống ở đây không chỉ buồn mà còn nghèo nàn, xơ xác. Không gian ấy khiến ta không khỏi ám ảnh và cảm thương cho những số phận, sinh linh tội nghiệp đang phải sống những ngày mòn mỏi ở nơi đây.

Liên là một cô gái mới lớn, tinh tế và nhạy cảm, trong khoảnh khắc của ngày tàn đã nhanh chóng nắm bắt những biến chuyển của thiên nhiên. Em cảm nhận thấy mùi vị của quê hương trong phiên chợ đã tàn: “một mùi ẩm mốc bốc lên trộn lẫn với mùi cát bụi quen thuộc quá…” ấy là mùi vị đã thấm sâu trong tâm hồn em, tâm hồn của một người gắn bó tha thiết, sâu nặng với quê hương.

Khi màn đêm buông xuống, cuộc sống nơi phố huyện vẫn tiếp diễn. Liên sửa soạn, vội vàng “thắp đèn, xếp những quả sơn đen lại” và nhẩm tính những món hàng đã bán được trong ngày. Rồi lần lượt chị Tí, bác xẩm, gánh phở bác Siêu xuất hiện. Chị Tí dọn hàng nước chờ đợi những khách hàng quá quen thuộc đi qua vào uống chén trà. Gánh phở bác Siêu lại là món ăn xa xỉ với người dân phố huyện, bởi vậy lúc nào cũng vắng khách. Bác xẩm gảy lên “mấy tiếng đàn bầu bần bật trong yên lặng” thu nhập chẳng đáng là bao. Hình ảnh cụ Thi điên có lẽ đã gây biết bao ám ảnh với người đọc, cụ triền miên trong cơn say, bước đi lảo đảo, dường như cụ tìm đến với hơi men để lãng quên thực tại cuộc sống nhàm chán, tẻ nhạt, để quên đi những nỗi đau của thực tế. Những người dân phố huyện vẫn gắng gượng sống qua ngày, họ sống cuộc đời mòn mỏi, mà chưa thể tìm ra lối thoát cho chính mình. Họ cũng mang trong mình mơ ước “Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì đó tươi sáng hơn…” nhưng đó chỉ là mơ ước mơ hồ, chập chờn, vu vơ, không có đích đến. Nhưng ước mơ đổi đời của những người dân phố huyện cũng được tác giả nâng niu, trân trọng.

Trong khoảnh khắc của ngày tàn, khi bóng tối đã ngập đầy mọi nơi, Thạch Lam một cách rất tinh tế đã tìm ra những khoảnh khắc đẹp đẽ, đầy lãng mạn của cảnh vật thông qua những cảm nhận nhạy bén của nhân vật Liên. Cô bé thích thú ngắm bầu trời đêm với ngàn sao lấp lánh, tưởng tượng đó là dòng sông ngân hà với hai con vịt đi theo chân thần nông. “Qua kẽ lá của cành bàng, ngàn sao vẫn lấp lánh; một con đom đóm bám vào dưới mặt lá, vùng sáng nhỏ xanh nhấp nháy rồi hoa bàng rụng xuống vai Liên khe khẽ…” Liên quả là người có tâm hồn nhạy cảm và tinh tế, khi “đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối” em vẫn tìm thấy những nguồn sáng khác nhau từ thiên nhiên, cảm nhận cái rơi thật khẽ, thật êm của hoa bàng rụng. Liên tìm đến ánh sáng không phải là một điều ngẫu nhiên, ánh sáng ấy chính là mơ ước về một cuộc sống tốt đẹp hơn của Liên. Em tìm nguồn sáng sáng xua tan đi bóng tối: khe sáng, hột sáng, quầng sáng… Nhưng những nguồn sáng ấy dù phong phú nhưng nhỏ bé, mong manh, yếu ớt, không đủ để xua đi bóng đêm. Đây đồng thời cũng là khao khát đổi đời để thoát khỏi cuộc sống quẩn quanh, bế tắc của thực tại.


Nhưng có lẽ đẹp nhất, rực rỡ nhất chính là khoảnh khắc khi đoàn tàu vụt qua phố huyện nghèo. Không ai ngủ, không ai về trước khi đoàn tàu đi qua, ai cũng cố thức để chờ đoàn tàu đến, không phải là để cố gắng bán thêm được thứ gì, vì hầu như không có ai mua, mà là bởi để thấy được chút ánh sáng của sự sống, của niềm tin, hy vọng. Cũng bởi vậy mà, mặc dù đã buồn ngủ nhưng An vẫn cố nhắc chị khi nào đoàn tàu đến hãy gọi em dậy, trong mong manh vô thức, An cũng có khao khát đổi đời như tất cả người dân nơi đây. Khi đoàn tàu xuất hiện, tiếng reo lên đầy vui sướng: “đèn ghi đã ra kia rồi”, hồi còi tàu hỏa kéo dài, làn khói sáng trắng xuất hiện từ phía xa. Đoàn tàu vụt qua mang đến biết bao âm thanh: “tiếng xe rít mạnh vào ghi” , “tiếng hành khách ồn ào khe khẽ”, “tiếng còi rít lên”, đó là sự náo nhiệt, ồn ã, đông vui trái ngược hẳn với sự tĩnh lặng của phố huyện. Trên các toa tàu sáng rực “các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường”, “đồng và kền lấp lánh” nó gắn liền với cuộc sống sang trọng, giàu có trong phút chốc xua đi bóng tối, sự ảm đạm của cuộc sống nơi đây. Đoàn tàu đi qua, người ta vẫn cố nhìn theo đóm lửa xanh cho đến khi nó mất hẳn. Nếu đoàn tàu đi qua mang lại ánh sáng rực rỡ như sao băng thì giờ đây ở phố huyện chỉ còn lại vầng sáng nhỏ bé, leo lét, đêm tối lại bao bọc xung quanh. Đoàn tàu là hình ảnh của quá khứ, của Hà Nội, gợi về một thế giới thần tiên mà hai đứa trẻ từng được trải nghiệm, là biểu tượng của thế giới hạnh phúc mà hai đứa trẻ cũng như tất cả người dân phố huyện đang khao khát.

Phân tích Hai đứa trẻ - Mẫu 3
Truyện của Thạch Lam không có chuyện. Truyện “Hai đứa trẻ” cũng vậy. Chỉ có hai đứa trẻ từ Hà Nội chuyển về một phố huyện nghèo, trông coi một cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu. Chiều, hai chị em ngồi trên chiếc chõng tre ngắm cảnh phố xá lúc hoàng hôn, rồi đêm đến, tuy đã buồn ngủ ríu cả mắt, hai chị em vẫn cố thức để đợi xem chuyến tàu đêm từ Hà Nội chạy qua rồi mới khép cửa hàng đi ngủ.

Thạch Lam muốn tránh lối viết tầm thường là hấp dẫn người đọc bằng cốt truyện li kì, những tình tiết éo le, những cuộc tình mùi mẫn, hoặc là những xung đột gay cấn hồi hộp. “Hai đứa trẻ” hấp dẫn người đọc bằng chất liệu thật của đời sống.

Cách lựa chọn chất liệu này gần với Nam Cao, Nguyên Hồng, Tô Hoài (các nhà văn hiện thực giàu tính nhân đạo), lại kích thích người đọc bằng những ước mơ, hoài bão tốt đẹp. Tinh thần lãng mạn ấy gắn với các nhà văn Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo.

Thạch Lam có một lối văn nhẹ như cánh bướm đậu trên hoa. Bức tranh bằng ngôn ngữ của ông có thể ví với tranh lụa chứ không phải sơn dầu. Thạch Lam trước sau vẫn là một nhà văn lãng mạn. lãng mạn tích cực, đẹp.

Trong “Hai đứa trẻ” chất lãng mạn và hiện thực hòa quyện với nhau hiện ra trong bức tranh thiên nhiên của một vùng quê vào một buổi chiều ả. Rồi màn đêm dần dần buông xuống “Một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát…” thiên nhiên thì cao rộng thì cao rộng và thơ mộng.

“Phương Tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn”. Nhưng làng quê thì đầy bóng tối, thảm hại. “Trong cửa hàng hơi tối, muỗi đã bắt đầu vo ve”. “Đôi mắt Liên, bóng tối ngập đầy dần”. “Chỉ thấy lòng buồn man mác trước giờ khắc của ngày tàn”. Chính bức tranh đời sống rất mực chân thật vừa thấm đượm cảm xúc chữ tình này đã gây nên cảm giác buồn thương dây cho người đọc. Ý nghĩa tư tưởng của truyện chủ yếu toát ra từ bức tranh đời sống phố huyện nghèo.

Dưới mắt của hai đứa trẻ, cảnh phố huyện hiện lên thật là cụ thể, sinh động, gợi cảm. Đó là cảnh bãi chợ trống trải, vắng vẻ khi buổi chợ đã vãn từ lâu. “Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất”. Cảnh chợ tàn phơi bày sự nghèo nàn, xơ xác của đời sống phố huyện.

Ống kính cần mẫn của nhà văn lia qua phố huyện: trên đất chỉ còn “rác rưởi, bỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía”. Cảnh còn được miêu tả bởi khứu giác tinh tế của nhà văn “một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn mùi cát bụi quen thuộc quá, khiến chị em liên tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này”. Bức tranh phố huyện trong “Hai đứa trẻ” đầy sức ám ảnh là vì những màu sắc và hương vị như thế.

Trong khung cảnh tiêu điều, buồn bã đó, hình ảnh những con người nghèo khổ, lam lũ, nhếch nhác của phố huyện hiện dần ra. Những đứa trẻ đi nhặt nhạnh những thứ rơi vãi ở bãi chợ. Mẹ con chị Tí lễ mễ đội chõng xách điếu đóm ra dọn hàng, “ngày, chị đi mò cua bắt tép; tối đến chị mới dọn cái hàng nước này…”.

Gia đình bác Xẩm ngồi trên manh chiếu, cái thau sắt trắng để ở trước mặt”. Thằng con bò ra đất nghịch nhặt rác bẩn bên đường. Và hai chị em Liên với cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu mẹ Liên dọn ngay từ khi cả nhà bỏ Hà Nội về quê vì thầy Liên mất việc.

Bà cụ Thi điên điên tàng tàng mua rượu uống và cười “khanh khách” lảo đảo đi vào bóng tối. Tất cả đều là những kiếp sống lầm than, cực khổ, tàn tạ. Qua con mắt của bé Liên, tất cả cuộc sống chìm trong đêm tối mênh mông, chỉ còn ngọn đèn của chị Tí, cái bếp lửa của bác Xiêu, ngọn đèn Hoa Kỳ vặn nhỏ của Liên… tức chỉ là mấy đốm sáng tù mù, những đốm lửa nhỏ nhoi ấy chẳng làm cho phố huyện sáng sủa mà chỉ càng khiến cho đêm tối mịt mù dày đặc mà thôi.

“Tất cả phố xá trong huyện bây giờ thu nhỏ lại nơi hàng nước của chị Tí”. Hình ảnh ngọn đèn con nơi hàng nước của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ ấy trở đi trở lại tới bẩy lần trong huyện là hình ảnh đầy ám ảnh và có sức gợi rất nhiều về những kiếp sống nhỏ nhoi, lay lắt, mù tối trong đêm đen mênh mông của cuộc đời.

Bài mẫu phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ 8
9

Bài mẫu phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ 9

Tên tác phẩm: Hai đứa trẻ

Tác giả: Thạch Lam (1910 -1942) là một nhà văn lớn của khuynh hướng văn học lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930-1945

Vài nét về tác phẩm: “Hai đứa trẻ” được rút trong tập truyện ngắn “Nắng trong vườn” (1938). Nhân vật chính của tác phẩm là hai chị em Liên và An.

Nội dung phân tích:

  • Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” là tiếng nói xót thương đối với những kiếp người nghèo đói cơ cực, sống quẩn quanh bế tắc, không ánh sáng, không tương lai, cuộc sống như cát bụi ở phố huyện nghèo trước cách mạng tháng Tám.
  • Qua những cuộc đời đó Thạch Lam làm sống dậy những số phận của một thời, họ không hẳn là những kiếp người bị áp bức bóc lột, nhưng từ cuộc đời họ Thạch Lam gợi cho người đọc sự thương cảm, sự trân trọng ước mong vươn tới cuộc sống tốt đẹp hơn của họ. Vì vậy tác phẩm vừa có giá trị hiện thực vừa có giá trị nhân đạo sâu sắc.

Thạch Lam là một trong những nhà văn tiêu biểu của làng văn học Việt Nam. Những sáng tác của ông không quá phô trương lòe loẹt mà thường miêu tả một cách chân thực đời sống của người nông dân, qua đó, lột tả nội tâm sâu sắc của nhân vật. Trong truyện Hai đứa trẻ, qua việc miêu tả cảnh phố huyện nghèo qua con mắt cả nhận của Liên, tác giả đã thể hiện nỗi xót thương của mình trước những số phần nghèo khổ đang tàn lụi dần.

Khung cảnh của phố huyện được tác giả miêu tả trong ba khoảng thời gian: buổi hoàng hôn, ban đêm và đêm khuya. Cảnh bao trùm lên toàn bộ các sự vật, sự việc, con người là bóng tối. Tuy vậy, vẫn lấp ló đủ mọi thứ ánh sáng. Trên cái nền sáng tối đó, tất cả như nhòe đi, lúc rõ, lúc khuất. Cũng bởi vậy, câu chuyện kể, tuy chỉ nói đến những sự việc bình thường, những con người bé nhỏ. nhưng lại có sức gợi rất lớn. Nhà văn muốn nói tiếng nói về cuộc sống, cảm nhận và suy ngẫm về nó, trước hết đều bắt đầu từ những gì thân thuộc và gần gũi, sâu lắng nhất. Ta có thể lí giải điều này bằng thuở thơ ấu của Thạch Lam trôi qua ở phố huyện Cẩm Giàng êm đềm. Có lẽ, lúc viết Hai đứa trẻ, những kỉ niệm thân quen đã thành máu thịt hằn trong kí ức bừng thức dậy, xôn xao. trước một cảnh đời tương tự mà ông được chứng kiến. Vì vậy, truyện vừa thực, vừa lộ bày, vừa trữ tình, sâu lắng vọng ra từ kí ức và tâm khảm của văn nhân. Không nắm bắt được điều này, người ta dễ hiểu và đánh giá tác phẩm lệch lạc hoặc phiến diện.

Mở đầu câu chuyện là hình ảnh của buổi chiều với những hình ảnh, âm thanh gợi nỗi buồn. Âm thanh “tiếng trống thu không. vang ra để gọi buổi chiều”. Màu đỏ của mặt trời là màu của “hòn than sắp tàn” hắt vào đám mây. Và dãy tre làng đã “đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời”. Tả cảnh chăng? Đúng thế! Song nếu để ý một chút, ta có thể thấy cảnh vật ở đây không vô hồn và nhà văn không vô tình tả như thế. Thực ra thì chiều gọi tiếng trống, mặt trời lặn, và đêm bắt đầu buông. Nhà văn cố tình diễn tả cảnh vật theo ý muốn chủ quan, theo sở thích dùng lối tả gián tiếp sự vật của mình. Cảnh chiều quen thuộc muôn đời ai cũng biết, nhìn đều biết. giờ đây như đọng lại, hắt lên trên giấy, pha lẫn những thoáng nhìn, thoáng cảm của Thạch Lam.

Với cách miêu tả của Thạch Lam, người đọc có cảm giác buổi chiều trôi qua thật chậm, càng làm cho nỗi buồn của nhân vật được nhân lên gấp bội lần. Buồn trong câu “Chiều, chiều rồi.” vừa như một nhận xét vừa như một tiếng thở dài nhẹ. Chiều như cảm thấy được (êm như ru): chiều tĩnh lặng qua chi tiết “văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào”. Tín hiệu quê được báo hiệu bằng những âm thanh vọng lên từ nơi tù đọng “muỗi đã bắt đầu vo ve”. Cái buồn thấm vào lòng khiến người ta “buồn man mác”. mà “không hiểu sao”.

Buổi chiều qua đi, nhường chỗ cho màn đêm buông xuống và cũng là lúc công việc về đêm bắt đầu. Khép lại phiên “chợ họp giữa phố vãn từ lâu”, khép lại trong việc chị em Liên “đếm lại những phong thuốc lào, xếp vào hòm những bánh xà phòng. lẩm nhẩm tính tiền.” hay trong bóng bà lão điên “lẫn vào bóng tối, tiếng cười khanh khách nhỏ dần về phía làng.”. Trước đó, sự mở ra bắt đầu bằng câu chuyện không ăn nhập của hai chị em Liên; rồi bao nhiêu là đèn thắp lên; mấy đứa trẻ “cúi lom khom trên mặt đất tìm tòi” để “nhặt nhạnh thanh nứa thanh tre hay bất cứ cái gì có thể dùng được của các người bán hàng để lại”, mẹ con chị Tí bắt đầu dọn cửa hàng nước không biết “để bán cho ai”.

Cái mở ra và cái khép lại xen cài vào nhau như tạo ra một cuộc sống mà ta cảm nhận được là luẩn quẩn, tù đọng và ngột ngạt. Chúng là đời thường, lặp đi lặp lại đến chán ngắt. Chúng là điều có thể đem ra để mà giải thích cho nỗi buồn “không hiểu sao” của Liên.

Ánh sáng nơi phố huyện này không như ánh sáng của những nơi ồn ã, náo nhiệt, thứ ánh sáng nơi đây chỉ còn lọt qua khe cửa, lũ trẻ “tụ tập ở thềm hè, tiếng cười nói vui vẻ” vang trong đêm tĩnh. Hai đứa trẻ vẫn lặng lẽ hết nhìn trời sao rồi lại nhìn xuống mặt đất xung quanh. Những sinh hoạt trong phố huyện thu vào hoạt động của gánh phở bác Siêu “một thứ quà xa xỉ. hai chị em không bao giờ mua được”; thu vào câu chuyện chán nản do ế ẩm của hàng nước chị Tí; thu vào tiếng bật trong im lặng của tiếng đàn bầu bác Xẩm. Cái nghèo lộ khá rõ trong. đêm vắng. Chị em Liên mơ về “những cốc nước lạnh xanh đỏ” xa xưa, thằng con bác Xẩm “bò ra đất ngoài mạnh chiêu, nghịch nhặt những rác bẩn vùi trong cát bên đường.”. Cái tù đọng và nghèo nàn hiện rõ đến mức Thạch Lam đang kể chuyện phải kêu lên một câu tưởng như không thể có ở một người viết truyện già dặn như ông vì ý đồ chủ quan quá rõ “Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hàng ngày của họ”!

Càng về khuya, cảnh vật nơi phố huyện càng trở nên tĩnh lặng hơn, bỗng xôn xao, náo động bởi chuyến tàu. Liên thức chủ yếu cũng chỉ vì chuyến tàu ấy. Chuyến tàu được báo hiệu bằng “ngọn lửa xanh biếc, sát mặt đất như ma trơi” đèn ghi. Ánh đèn khiến Liên phải thầm kêu lên “Đèn.ghi đã ra kia rồi”. Rồi tiếng còi, tiếng xe “rít mạnh vào ghi” trong tiếng reo của Liên, trong cái “dụi mắt cho tỉnh hẳn” của An. Chuyến tàu đến “như đã đem một thế giới khác đi qua”. Nó như một dấu hiệu của sự thay đổi trong ngày, thay đổi không khí tẻ ngắt đã ngự trị ở đây suốt từ lúc bắt đầu câu chuyện. Rồi chuyến tàu qua. Bác Siêu đã vào làng; chị Tí dọn đồ; vợ chồng bác Xẩm đã ngủ gục. “Liên ngập vào giấc ngủ yên tĩnh”. Bóng tối lại phủ đầy. Lần này, cũng giống như hai lần trước, bóng tối phủ lên vạn vật. Có điều khác là ở những lần trước, dù bị bóng tối bao phủ, con người vẫn còn có thể cưỡng lại bằng các hoạt động, còn bây giờ, bóng tối đã chiến thắng, vùi bao số phận nghèo hèn trong nó, nuốt chửng đi.

Hình ảnh bóng tối cứ lặp đi lặp lại trong tác phẩm đã trở thành một hình ảnh mang ý nghĩa là một biểu tượng. Theo sự cố ý nhấn mạnh của Thạch Lam, hình ảnh biểu tượng này có ý nghĩa gợi lên là sự tăm tối, sự tù đọng, luẩn quẩn mà những con người nghèo khó khó có thể vượt qua nỗi. Nếu hiểu như vậy thì hình ảnh ánh sáng bao nhiêu là loại ánh sáng trong truyện chính là niềm hy vọng khó có thể dập tắt ở những con người nói trên. Hi vọng vào đâu, hi vọng vào cái gì và vào ai, “Liên không hiểu” và cả tác giả cũng không hiểu. Bởi thế, dù truyện được nhiều người coi là Thạch Lam đã chơi ánh sáng trong những trang viết của mình; song đã là trò chơi, thì dù có muốn, những trang viết của ông vẫn tràn đầy bóng tối. Ngoài đời chưa có ánh sáng nên nỗi ước mong ánh sáng càng thiết tha thì khi nó bị bóng tối lấn lướt, khiến ta càng não lòng hơn. Truyện buồn là do nguyên nhân sâu xa này. Dĩ nhiên ta có thể coi đó là một nỗi buồn đẹp, nỗi buồn bắt nguồn từ lòng nhân ái của nhà văn tràn ra, thấm vào lòng người đọc.

Trong cái phố huyện nghèo của Thạch Lam chỉ có mẹ con chị Tí bán nước, bác phở Siêu, bà cụ Thi, vợ chồng bác Xẩm và những đứa trẻ trạc tuổi Liên và An và bé Hơn (con bác Xẩm), và nhân vật chính trong truyện là An và Liên.

Ở đầu và cuối truyện, Thạch Lam gọi nhân vật Liên là “chị”. Trong khoảng giữa nhà văn chỉ gọi là Liên. Từ “chị” biểu lộ một sắc thái tình cảm thương mến, một đánh giá: cô bé đã lớn lớn trước tuổi. Liên mang dáng dấp muôn thuở của người phụ nữ Việt Nam suốt một đời tần tảo, chịu thương, chịu khó, lo toan gánh vác việc nhà cho dù đôi vai còn gầy yếu. Mẹ tin giao cho chìa khóa tráp tiền đeo vào dây xà ích ở thắt lưng, đếm tiền, kiểm hàng trong gian tạp hóa nhỏ. Cô như già dặn hơn khi biết cảm thương cho kiếp người, những đứa trẻ lang thang nhưng đủ kinh nghiệm để “không có tiền để mà cho”. Cô đủ biết món quà xa xỉ của bác Siêu “hai chị em không bao giờ mua được”.

Tuy nhà văn đã để Liên tự nhìn cuộc sống và có những cảm nhận về cuộc sống nghèo nàn, nhưng Liên và An vẫn là hai đứa trẻ thơ. Chất trẻ thơ ở hai sinh linh bé nhỏ này được nhà văn thể hiện qua hàng loạt cái nhìn, cái cảm non tơ, bỡ ngỡ, mới mẻ của họ đối với cuộc sống xung quanh.

Tưởng như đã quá quen thuộc cảnh phố huyện chiều, đêm, khuya. Tưởng như tất cả cứ lặp đi lặp lại, tù đọng, nhức buốt lặng thầm trong cảnh vật. Song, với Liên và An, hình như họ vẫn cố tìm ở đó, tìm ở cái đời thường cái mới, cái lạ. Họ cố tìm cái gì đó ở một chiều quê buồn, “ngồi yên nhìn ra phố” dõi theo các loại đèn ở các nhà đang bừng sáng, phát hiện ra được vẻ đẹp của “cát lấp lánh”, “đường mấp mô” vì “một bên sáng một bên tối”. Họ cố xúc cảm trước “mùi âm ẩm bốc lên”, “mùi cát bụi quen thuộc” và phát hiện ra rằng vẫn có những cái lạ. Cái lạ đó là “mùi riêng của đất”, mùi vị “của quê hương”. Hòa trộn hai nét tính cách “già”, “trẻ” hay “lớn”, “bé”, Thạch Lam cũng dùng như thủ pháp hòa trộn hiện thực và mơ mộng, sáng và tối. Nhân vật của ông không rõ nét về hình dáng nhưng thật sâu ở tâm hồn.

Hai đứa trẻ đã trở thành tác phẩm mang giá trị nghệ thuật sâu sắc. Câu văn của Thạch Lam thường mềm mại, uyển chuyển, giàu hình ảnh và nhạc điệu, gọn gàng, ít khi thừa câu chữ và rất sát sự thật, sự việc. Cảnh buổi chiều lan tỏa khắp nơi: trên chòi huyện nhỏ, trên trời, dưới lũy tre làng. Chiều gợi lên từ âm thanh (tiếng trống), từ “màu đỏ”, “hồng” của trời và mây, từ màu “đen lại” của lũy tre in trên nền trời đỏ. Chiều lãng đãng thấm vào vạn vật. Và không thể bỏ qua điều này: chiều thấm vào lòng người. Thành thử, cách nghe, cách nhìn có vẻ như chủ quan. Chữ “thu không” trong “tiếng trống thu không” Thạch Lam chuyển nghĩa thật tài tình. Vốn được hiểu như một danh từ chỉ một loại âm thanh báo hiệu thời khắc, chữ “thu không” ở đây biến theo nghĩa động từ, chỉ sự uể oải, buông lơi, lãng đãng và lan tỏa của tiếng trống khi chiều buông. Nếu tách từng câu riêng rẽ, ta thấy Thạch Lam tả rất sát sự thực các chi tiết của bức tranh chiều. Song chỉ cần gộp lại, người ta không những chỉ thấy bức tranh ấy mà còn cảm được dư vị của chất thơ mặn mà trong đó.

Các loại câu mang mục đích phát ngôn được Thạch Lam phân bố thật khéo léo. Các câu kể đều thiên về miêu tả, ít câu thuật. Bởi vậy, truyện vừa thật, vừa gợi. Gợi sự ngây thơ non trẻ của nhân vật, tác giả hay dùng những từ “tưởng là.”, “không hiểu”, “không biết” khiến cho câu mông lung không rõ là phủ định hay khẳng định. Các câu đối thoại (phần nhiều là câu hỏi, câu cảm và một số câu cầu khiến) được nhà văn đặt “lầm” chức năng một cách cố ý. Sự cố ý ấy nhằm gợi sự rời rạc của những thông tin vốn ai cũng đã biết, giờ nhắc lên chỉ làm cho sự vật, sự việc thêm buồn mà thôi.Dưới dòng chảy của những câu văn như thế, ngầm chứa một kết cấu luẩn quẩn, xen cài, xuôi ngược, lẫn lộn nhưng lại hết sức mạch lạc. Mạch lạc theo dòng thời gian. Nhưng không khí và tâm trạng của cảnh và người thì luẩn quẩn, bóng tối và ánh sáng cài lẫn vào nhau tạo nên một vùng quê với những con người vừa thực, vừa mờ ảo; vừa tưởng như nắm bắt được, vừa thấy đã đọc mãi rồi mà vẫn như chưa hiểu hết.

Qua tác phẩm Hai đứa trẻ, cuộc sống của người lao động nơi phố huyện nghèo dần dần được hiện ra trong con mắt ngây thơ của Liên. Tác giả đã rất tinh tế khi miêu tả nội tâm nhân vật một cách sâu sắc, từ việc khai thác nội tâm nhân vật, tác phẩm để thể hiện sự đồng cảm của tác giả với những người lao động nghèo khổ, sống trong cảnh túng quẫn mà không tìm ra được lối thoát cho mình. Đó cũng là giá trị nhân đạo mà tác phẩm để lại.

Bài mẫu phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ 9
10

Bài mẫu phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ 10

Tên tác phẩm: Hai đứa trẻ

Tác giả: Thạch Lam (1910 -1942) là một nhà văn lớn của khuynh hướng văn học lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930-1945

Vài nét về tác phẩm: “Hai đứa trẻ” được rút trong tập truyện ngắn “Nắng trong vườn” (1938). Nhân vật chính của tác phẩm là hai chị em Liên và An.

Nội dung phân tích:

  • Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” là tiếng nói xót thương đối với những kiếp người nghèo đói cơ cực, sống quẩn quanh bế tắc, không ánh sáng, không tương lai, cuộc sống như cát bụi ở phố huyện nghèo trước cách mạng tháng Tám.
  • Qua những cuộc đời đó Thạch Lam làm sống dậy những số phận của một thời, họ không hẳn là những kiếp người bị áp bức bóc lột, nhưng từ cuộc đời họ Thạch Lam gợi cho người đọc sự thương cảm, sự trân trọng ước mong vươn tới cuộc sống tốt đẹp hơn của họ. Vì vậy tác phẩm vừa có giá trị hiện thực vừa có giá trị nhân đạo sâu sắc.

Thạch Lam là nhà văn xuất sắc của nền văn học Việt Nam, ông có rất nhiều những tác phẩm hay, và đặc biệt nổi bật chúng ta thấy tác phẩm Hai Đứa Trẻ là một trong những tác phẩm có giá trị và đem lại cho độc giả nhiều cảm nhận sâu sắc và mới mẻ nhất.

Hai Đứa Trẻ là truyện ngắn hay của Thạch Lam trong tác phẩm nó đã miêu tả được bức tranh phố huyện khi chiều tà và hình ảnh đợi tàu của Hai Đứa Trẻ cũng để lại rất nhiều cảm xúc cho người đọc. Giá trị của tác phẩm không chỉ dừng lại ở việc miêu tả sự vật sự việc, mà việc miêu tả nội tâm nhân vật cũng mang những giá trị vô cùng lớn lao và sâu sắc, hình ảnh của những đứa trẻ nghèo đang quay quắt với cái đói, những hình ảnh mang đậm giá trị và màu sắc hương vị cuộc sống, những tác phẩm để lại cái nhìn sâu sắc và mới mẻ dành cho người đọc, nó không chỉ để lại cho mỗi chúng ta nhiều cảm xúc sâu lắng mà để lại cho người đọc những nỗi nhớ mong và những cảm giác hồi hộp khi đón chờ những tia nắng sớm và niềm hy vọng đang chớm nở.

Trong tác phẩm hình ảnh những sự vật về chiều khi chợ vừa tan đã để lại cho chúng ta thấy cảm giác tiêu điều và xơ xác trong khung cảnh của khu phố huyện, tất cả đều diễn ra tấp nập, nhưng rất nhiều những số phận hẩm hiu đang bao quanh và bao trùm lên một bầu không khí chật hẹp của cảnh phố huyện tiêu điều. Những hình ảnh đó thể hiện những điều rất đơn sơ và mộc mạc đây là cuộc sống, cuộc sống của những con người nghèo khổ, khi chợ vừa tan trong đó chỉ còn xuất hiện rác rưởi và những em bé có số phận bất hạnh đang đi nhặt từng những thứ còn lại trong buổi chợ, những hàng bán những người đi mò cua bắt ốc, và vợ chồng nhà bác Xẩm cũng đi hát để lấy tiền nuôi sống chính bản thân. Trong cảnh đêm tối những mọi thứ nơi đây vẫn diễn ra, nhưng cảnh buồn rầu sơ xác của phiên chợ tan là để lại cho người đọc nhiều cảm xúc, đó là những hình ảnh thể hiện sự tiêu điều sơ xác của sự vật, tất cả nó đang bao trùm lên cuộc sống và đời sống riêng tư của họ.

Chợ đã tan chiều đã về núi, trên khoảng không gian đó vẫn xuất hiện những con người phải đi lao động để kiếm sống, những tiếng ếch kêu ran hay những tiếng côn trùng ngoài cánh đồng đang kêu da diết, và nó thể hiện một bức tranh có màu thi vị của cuộc sống, nhưng nồng ghép vào đó là những hình ảnh của một cảnh phố huyện nghèo, những con người quanh năm đầu tắt mặt tối, bươn trải để kiếm sống, họ cực khổ lam lũ cho cuộc sống đời thường, giá trị của nó đã mang cho chúng ta thấy đời sống cực khổ và vất vả của mỗi người, hình ảnh trên không chỉ để lại cho người đọc những cái nhìn sâu sắc mới mẻ về sự vật hiện tượng, mà nó còn bao trùm lên những giá trị và hương vị của cuộc sống những giá trị đó da diết và để lại nhiều cảm xúc cho người đọc.

Qua cái nhìn của chúng ta khi thấy hình ảnh một khu phố huyện nghèo đang tiêu điều xơ xác, khi cảnh đêm đang tràn xuống nhưng cuộc sống vẫn đang diễn ra tấp nập thường thì vào tối gia đình sẽ là nơi tụ họp để trò chuyện và ăn với nhau những bữa cơm gia đình, nhưng ở nơi đây ban ngày họ bán mặt cho đất bán lưng cho trời, ban đêm họ cũng phải đi kiếm sống, từ những gánh hàng nhỏ trên vai giao bán, cuộc sống lam lũ và vất vả đang bủa vây trong con người của họ. Những hình ảnh mang đậm giá trị và sức sống mạnh mẽ nó đang ngập tràn và thể hiện được những cái nhìn sâu sắc và mới mẻ về cuộc đời của mỗi con người. Nơi đây cuộc sống vất vả họ phải bươn trải để kiếm sống, để lo cho cuộc sống, họ vất vả và gian nan vượt qua mọi điều mà cuộc sống này đặt ra. Hình ảnh những người nông dân nghèo khổ đang bươn trải để kiếm sống từng ngày.

Trong đó còn xuất hiện hình ảnh của hai đứa trẻ trong câu chuyện, đây là hình tượng trung tâm của tác phẩm. Quá khứ hai đứa trẻ này sống ở vùng đô thị Hà Thành, nơi có những nước xanh đỏ, những đèn điện sáng rực rỡ, nhưng rồi cuộc sống đã đưa cho Liên và An trở về phố huyện này sinh sống, ở nơi đây hai đứa vẫn luôn luôn nhớ về quá khứ của mình, những nơi phồn hoa đô thị, nơi có cuộc sống tấp nập diễn ra, người dân không phải chịu những cuộc sống tăm tối và đói khổ như thế này, chính những điều đó làm cho hai đứa trẻ luôn mong ước để trở về quá khứ, hình ảnh cuộc sống tươi đẹp nơi phồn hoa đô thị đã diễn ra trong cuộc sống của hai chị em. Nơi đây cuộc sống của phố huyện nghèo này khác với cuộc sống trên đó, họ không được sống những cuộc sống hạnh phúc và những năm tháng tươi đẹp nữa, chính vì vậy những mong ước luôn được tồn tại trong tâm hồn hai đứa trẻ này.

Những hình ảnh đó không chỉ để lại những nỗi nhớ mà còn rất nhiều cảm xúc cho cuộc đời của chúng, những hình ảnh gợi tả nhiều cảm xúc thân thương và những tình cảm chân thành da diết nhất mà cuộc đời này dành cho chúng.

Tâm hồn nhỏ bé của chúng luôn mong ngóng có một tia sáng chiếu qua, nó làm dịu mát tâm hồn của những đứa trẻ thơ, một cuộc sống lam lũ vất vả nơi phố huyện tiêu điều luôn là một động lực để họ mong ngóng một điều gì tươi đẹp sẽ đến trong cuộc đời của họ, những tia sáng niềm tin mạnh mẽ vào cuộc sống đã làm cho cuộc đời của họ có giá trị và tươi đẹp hơn, những giá trị niềm tin mang sức sống mạnh mẽ và nó dịu mát trong cuộc đời của mỗi người, những hình ảnh của một cuộc sống nơi phồn hoa làm cho hai đứa trẻ này luôn nhớ đến, hình ảnh được bố mẹ dắt đi chơi nơi đô thị và được uống những thứ nước xanh đỏ, tất cả quá khứ đang bừa về trong tâm hồn của những đứa trẻ thơ.

Và chính điều đó làm cho tâm trạng luôn mong đợi có tia sáng chiếu qua đó là hình ảnh đoàn tàu sắp tới, nơi đây ánh sáng leo lắt, nhỏ hẹp, nó không đủ để làm bừng lên những tia hy vọng đang sinh tồn trong cuộc đời của hai đứa trẻ này, nhưng nó đủ để làm sức sống của chúng vang dội và có giá trị mạnh mẽ, cuộc sống của hai đứa trẻ đang có chút tia hy vọng, bởi khi đoàn tàu reo qua, hình ảnh Liên và An trong tâm trạng đợi tàu gợi cho người đọc rất nhiều cảm xúc mạnh mẽ bởi nó mang đậm tâm trạng nội tâm của nhân vật, những hình ảnh mang giá trị to lớn và cốt lõi nhất dành đến cho mỗi con người. Hình ảnh trên không chỉ để lại những sức sống mãnh liệt mạnh mẽ mà nó còn để lại cho người đọc những cảm xúc riêng và có giá trị to lớn nhất.Những hình ảnh đó để lại những nỗi nhớ thương mạnh mẽ về quá khứ xưa.

An đã nhắc Liên khi có đoàn tàu thì gọi dạy xem chứng tỏ chúng đang mong ngóng có gì đó mới lạ làm thay đổi cuộc sống của họ. Khi đoàn tàu đi qua tất cả ánh sáng đã chiếu sáng cả một vùng của phố huyện nghèo này, nhưng nó đủ để cho hai chị em cảm thấy hạnh phúc, bởi những hình ảnh mang cho hai đứa trẻ này những chút hy vọng về cuộc sống tươi đẹp hơn sẽ đến.

Hình ảnh hai chị em trong truyện ngắn đã biểu lộ sâu sắc được tâm trạng đợi tàu của hai nhân vật này, và hình ảnh bức tranh phố huyện nghèo cũng được nhà văn miêu tả rất chân thực và sâu sắc.

Bài mẫu phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ 10

Trên đây là top 10 bài văn phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ của nhà văn Thạch Lam hay nhất mà Topz đã biên soạn. Hy vọng sẽ cung cấp thêm cho bạn những tài liệu tham khảo bổ ích để hoàn thành bài viết của mình một cách tốt nhất khi phân tích tác phẩm này. Hãy chọn lọc những chi tiết và ý kiến mà bạn tâm đắc nhất từ top 10 bài mẫu phân tích trên để xây dựng những ý tưởng mới cho bài làm của bạn nhé. Chúc các bạn đạt điểm cao trong những bài kiểm văn sắp tới!

Đánh giá:

Bình luận

Vui lòng đăng nhập để bình luận.

Hãy để lại bình luận của bạn tại đây!

Báo lỗi

Nội dung báo lỗi là bắt buộc!

Thông báo